Em sẽ có thành phố dầu kỳ lạ
Nhà máy hiện lên trên bờ bãi sình lầy
Đây núi Lớn và kia thành Tuy Hạ
Thênh thang trời cho mây khói bay…
(Nguyễn Duy)
Tôi đọc mãi vẫn thơ của anh, một phác thảo, một niềm tin… giữa chiều nay trên Tiền Cảng xôn xao, mà nghe vui con sóng vỗ trong lòng.
Đứng trên cầu Tiền Cảng (đúng ra là Cảng dầu – khí), nhìn đảo Long Sơn mờ xa trước mặt, chỉ cách một triền sông nước, tôi nhớ năm xưa anh đã từng chiến đấu giữ nơi này. Bây giờ, Tiền Cảng biết mấy đổi thay! Cạnh nơi chiếc xe tăng Mỹ – Ngụy bị các anh bắn cháy, nằm chình ình trong đám cỏ lau và gai góc năm xưa, nay là cầu Tiền Cảng hiện đại, vươn dài ra biển. Như anh biết đấy, Tiền Cảng là cả một cơ ngơi đồ sộ, là bệ phóng cho những khối chân đế giàn khoan (bloc–modul) nặng cỡ trăm ngàn tấn sắt thép ra biển, để xây dựng các giàn khoan. Sau lưng tôi, những cần cẩu hạng nặng, hạng vừa… vươn dài tới cả trăm mét đang hoạt động, và ngồn ngộn sắt thép, mà nổi lên giữa chúng là bloc–modul số 4, nơi các công nhân đang sơn chống ăn mòn. Bạn tôi, KS Trung Dụ – chỉ huy trưởng công trình thuộc Xưởng chống ăn mòn, rút từ trong túi ra chiếc máy tính nhỏ xíu, bấm liên tục những số liệu để kiểm tra khối lượng thi công, nói: “Hôm nay 13/7/1986, chủ nhật chúng tôi cũng phải làm việc anh ạ. Gấp lắm rồi ! Vì vào ngày 18/7 sắp tới phải hạ thuỷ để kéo chân đế ra biển…”
Nhìn qua khoảng không của những khung thép khổng lồ ở bloc–mudul số 4 bỗng thấy núi Lớn với những cánh ra–đa giang rộng và núi Nhỏ xa xa kia trở nên nhỏ bé hẳn đi. Đứng trên cầu Tiền Cảng chiều nay, tôi bỗng nhớ về anh đến thế! Anh Nguyễn Duy ơi! Tôi mong “giá như Anh về thăm lại nơi này…”
Lần cuối, vừa rồi ở thành phố, ta giành cho nhau một thoáng gặp, hàn huyên dăm ba chuyện gia đình – bạn bè từ thời Phổ thông… để rồi chia tay trong vội vàng sau hơn 10 năm xa cách. Anh ngược Trị An với những bài viết, những công trình giang giở của mình; còn tôi xuôi Vũng Tàu về Thành phố nổi. Những điều muốn tâm sự, muốn chia sẻ, đành để đến dịp khác mà nào ai đã biết đến bao giờ?
“Thành phố dầu kỳ lạ” – ấy là phần khái quát Anh nêu lên ở đất liền, kéo dài dọc bờ biển sông Đồng Nai, suốt từ Tiền Cảng đến thành Tuy Hạ, nơi dự định sẽ đặt những trụ tháp chưng cất dầu thô đầu tiên của Việt nam. Còn Thành phố nổi của chúng tôi – thành phố dầu mỏ, mà bạn bè quanh tôi – những người địa chất say mê tìm tài nguyên cho Tổ Quốc đã đi qua suốt chiều dài từ Bắc vô Nam, để bây giờ những tên đất, tên làng năm xưa thành kỷ niệm mãi mãi không phai mờ, thành tên tuổi của con cái chúng tôi, những An Châu, An Giang, Chợ Gạo, Minh Hoàng, Phù Cừ, Đông Hưng, Tiền Hải, Xuân Thuỷ, Cà Cối, Phụng Hiệp … đã về đây “cắm đất” trên biển thềm lục địa phía Nam, cách Vũng Tàu hơn 100km về phía Đông. Những người đi biển tìm dầu thường rất phóng khoáng và giàu óc tưởng tượng, còn gọi “Thành phố nổi” là “Thành phố niềm tin” hay “Lâu dài trên biển”, chẳng qua là tuỳ hứng từng người. Còn bây giờ, với quy mô rộng lớn kéo dài hơn 10km, các giàn khoan của chúng tôi “nhấp nhô giữa trời và biển cả” thực sự đã tạo nên một thành phố huy hoàng:
Chẳng số nhà đâu
Chẳng khóm phường đâu
Biển một mầu xanh thẳm
Địa chỉ của anh kỳ lắm
Em cứ đề Thành phố nổi, nghe em…
(Duy Quế)
Vào những ngày cuối tháng 6 vừa qua, tôi có nhiều dịp bay ra các giàn khoan biển, trước hết là giàn tự nâng Ê–kha–bi. Các nhà địa chất Liên Xô đã lấy tên một làng dầu khí ở Xa–kha–lin để đặt tên cho giàn khoan của mình, đủ biết họ yêu quê hương xứ sở và yêu quý ngành nghề đến mức nào! Lần này, giàn Ê–kha–bi có nhiệm vụ khoan thăm dò, nhằm vạch ranh giới dầu – nước của mỏ dầu Bạch Hổ. Va–lô–dia “lớn” – Phó phòng điều hành sản xuất cùng đi với tôi để bàn giao cáp đo địa – vật lý. Tại trạm đo karôta điện, I–van với mái tóc màu sáng hơi vàng, mà có lần cô kế toán Na–đi–a bảo tôi đấy là “xvet–ta–ru–ri”– mầu tóc điển hình cho người Nga, cởi trần, để lộ những bớt nhỏ màu nâu sau lưng và gáy, đang bàn với đội trưởng Va–le–ri Xê–men–nô–vich cách lắp đặt cuộn cáp dài 5000m, nặng hơn 3tấn vừa được cẩu từ tàu chở hàng Lam Sơn lên. Tôi cùng Va–lô–đi–a, sau khi nghe điện thoại của Va–le–ri, vội sang trạm karôta khí – Geoservices. Chiều sâu thực tế được hiện liên tục trên bảng điều khiển, chỉ rõ tiến trình khoan và nhắc nhở chúng tôi khoảng vỉa sản phẩm đang tới gần. Các chỉ số ka–rô–ta khí liên tục được ghi lại, chỉ rõ hàm lượng thành phần và hàm lượng tổng của khí các–bua hy–đrô xuất hiện trong quá trình khoan. Bỗng Va–le–ri reo lên: “Gặp dầu rồi, anh thấy không?” Tôi nhìn lên bảng điều khiển. Lúc này là x.. mét. Ở trang bên trái, máy ký sắc kí RECORDER C321 ghi lại chỉ số các–bua hy–đro khá cao là chỉ báo đáng tin cậy về mức độ chứa dầu của vỉa, tạo thành một “píc” nhọn trên giấy mầu hồng. Trưởng Phòng địa chất cục khoan biển Klim–truc đã ra đây trước tôi 5 ngày, cầm chiếc “rây” mẫu vụn đặt vào máy phát quang bi–tum, thấy phát quang mầu vàng. Tất cả 5 người chúng tôi, gồm các nhà địa chất: klim–truc, Va–lô–đia “bé”, Va–le–ri cùng Va–lô–đia “lớn” và tôi làm kỹ sư địa – vật lý, đều reo lên: có dầu!
Chúng tôi nhìn nhau, gật đầu tin tưởng, mà lòng đang xúc động lạ thường. Đấy là niềm vui chung của tất cả mọi người, mà chúng tôi – trên cương vị công tác của mình, may mắn được chứng kiến đầu tiên. Tự nhiên tôi nghĩ giá có anh bên cạnh cùng vui, thì thể nào anh cũng sẽ đề thơ để tặng chúng tôi, chứ không phải như những ai đó chỉ biết châm chọc là: “chả thấy dầu mỡ, chỉ có khí…”
Như vậy, chiều sâu vỉa sản phẩm đầu tiên của giếng khoan này được dự kiến khá chính xác theo sơ đồ liên kết mà phòng Phân tích tài liệu địa – vật lý chúng tôi cùng anh bạn – KS Ngô Khánh Băng và các KS địa chất lập ra từ mấy tháng trước. Nếu các vỉa được chứng minh cụ thể qua khoan và các thông số địa – vật lý, thử vỉa, khai thác, thì chúng tôi sẽ lập được sơ đồ hoàn chỉnh về cấu tạo địa chất của vùng đã có khoan, sẽ có một phương án hoàn toàn chắc ăn để tính trữ lượng..v..v.. và biết đâu anh Ngô Thường San – phó Tổng giám đốc Vietsovpetro phụ trách kỹ thuật sẽ vui lòng ký thưởng cho chúng tôi, những cộng sự thiệt tình, thẳng thắn và hiệu quả trong công việc.
Suy rộng thêm, ranh giới dầu – nước được vạch ra lần này sẽ có ý nghĩa quyết định đến cơ ngơi và quy mô Thành phố nổi trên biển.
Cũng vào dạo biển lặng như thế này năm xưa (26/5/1984) tàu khoan Mi–khai–in Mir–chin đã khoan trúng dầu và cho đốt cháy lên ngọn lửa màu vàng trước bao nổi vui mừng của tập thể Việt Nam – Liên Xô. Và chuyện ấy đã thành quen thuộc, khi nhiều giếng khoan liên tiếp trúng dầu. Những bức ảnh mầu mè đã giới thiệu quá rõ về thành tích của Liên doanh dầu khí Việt – Xô chúng tôi trong giai đoạn tìm kiếm thăm dò dầu khí ở thềm lục địa phía Nam. Nhưng điều mà mọi người chưa biết, cũng chính là cái điều người người mong đợi, đó là: khi nào ta khai thác dầu? Liệu có đủ để thắp đèn và chạy máy xát gạo hay không?
Vào những ngày gần đây, vùng biển phía Đông Vũng Tàu nhộn nhịp không khác nào một hải cảng sầm uất, nhất là ban đêm. Thực ra, nơi đây nào có ban đêm, vì điện sáng trắng suốt cả một vùng “đất mới”, cho những ca ba khoan hối hả quay vòng. Từ trên giàn khoan di động Ê–kha–bi quen thuộc với thế đứng ba càng vững chãi (nhưng thực ra lại rất cơ động vì có thể tự rút các chân đế nặng cỡ trăm ngàn tấn lên, rồi hạ sàn khoan cùng các máy móc thiết bị xuống mặt nước một cách nhẹ nhàng để di chuyển đến lập nghiệp ở một toạ độ mới) nhìn về phía Tây Nam vào buổi hoàng hôn, tôi không giấu nổi vui mừng. Và lại nghĩ, Anh Nguyễn Duy à, giá có Anh cùng đi…
Này nhé, anh thử nhìn qua cửa sổ vuông mỗi chiều nửa mét của trạm Geoservices vào lúc trời chiều, chếch về phía Tây Nam chỉ một khoảng biển thôi (ấy vậy mà thực tế tới 3km kia đấy) là giàn khoan khai thác số 3 đang được lắp ráp. Thân trên của giàn khoan và toàn bộ chiều cao trụ tháp được quét sơn trắng hiện rõ trong nắng chiều. Đêm đến, đây là giàn khoan nhiều đèn các loại nhất trong vùng biển, mà nổi rõ lên là hai chục ngọn đèn hiệu màu đỏ, nhấp nháy liên tục trên đỉnh tháp khoan. Những chiếc cần cẩu sơn mầu vàng khổng lồ của tàu I–spô–lin đang áp sát các chân đế, cẩu hàng tấn vật liệu lên để hoàn tất việc lắp ráp giàn khoan. Sàn khoan (bàn rô–to) đã lắp đặt xong, chỉ một thời gian ngắn nữa, giàn khoan này sẽ là điểm tựa cho hơn chục giếng khai thác dầu. Các con tầu dịch vụ sơn mầu đỏ ánh lên trong nắng chiều rực rỡ, lúc thì nằm kề bên giàn khoan, lúc thì tất bật tới lui trong tư thế sẵn sàng của những người nội trợ. Xa hơn nữa là các giàn khoan khai thác số 1 và số 2, rồi đến trạm – rót dầu – không bến. Điện bừng lên khi chiều vừa buông xuống, không để cho hoàng hôn kịp trải những vệt sáng huyền diệu muôn màu xuống vùng biển công nghiệp. Điện sáng từ hơn 10 “quận” khác nhau: lắp ráp, thi công tìm kiếm – thăm dò, khai thác, dịch vụ – vận chuyển và các đơn vị Hải quân nhân dân Việt Nam làm nhiệm vụ ngày đêm canh giữ sự thanh bình cho xứ sở. Vậy mà, Anh biết không giữa các quầy sáng kia vẫn nổi lên lộng lẫy ở giàn khoan khai thác số 1 – “Công trình của tình anh em hữu nghị Việt – Xô” – cách chỗ chúng ta đứng chừng 10km, ngọn lửa mầu vàng rực rỡ, uốn lượn trong gió, bập bùng như đậu, như bám vào pha–ken, tuỳ theo lượng khí các–bua hy–đro tách ra nhiều hay ít từ dòng dầu phun lên, làm nổi rõ thân tàu chở dầu Krưm lừng lững ở phía Tây Nam thành phố nổi.
Ngọn lửa đốt thử dầu những lần trước đã được các nhà báo, nhà thơ ghi nhận và mô tả kỹ càng, còn lần này, nó là ngọn lửa thiêng khẳng định việc khai thác dầu – khí đã được bắt đầu, đưa Việt nam vào danh sách các quốc gia khai thác dầu trên thế giới, là ngọn cờ cắm trên chiếc cầu nối hai bờ Cũ – Mới của đất nước.
Cách đây không lâu, đường ống dẫn dầu hoàn thành và được kiểm tra kỹ lưỡng trước khi đưa vào khai thác. Ngày 26/6/1986, đúng 10 giờ 30 phút, đồng chí Pu–ri chánh kỹ sư “Vietsovpetro” thay mặt đoàn cán bộ ra giàn khoan khai thác số 1, đã tự tay mở van khai thác. Dầu phun lên.
Tiếng hò reo phấn khởi bật dậy.
Cười, khóc, ôm hôn nhau…
Dòng dầu mong đợi từ tầng sâu được đưa qua hệ thống tách sơ bộ để tách ra phần khí mang (đốt cháy đi, thật phí!) và kiểm tra lưu lượng, rồi tuôn chảy theo đường ống sang tàu Krưm. Ngọn lửa mà mọi người nhìn thấy chỉ là do đốt cháy phần khí đi kèm dầu thô, mà thành phần cơ bản là các phân đoạn nhẹ các–bua hy–đrô, từ mê–tan trở đi. Thấy tôi xuýt xoa tiếc rẻ, KS Lâm Quang Chiến đồng tình: “Đáng lẽ ở những nước đã có ngành công nghiệp khai thác dầu lâu đời, phần khí này được giữ lại, đem hoá lỏng và chưng cất để sử dụng, cùng lắm là dẫn theo đường ống làm nhiên liệu chạy máy phát điện hoặc tận dụng đun nấu.” Nhưng để tàng trữ và chế biến nó, như có lần Va–lô–đia “lớn” đã giải thích “đòi hỏi phải có kỹ thuật cao và đường ống an toàn, rất tốn kém”, mà chúng ta chưa có điều kiện thực hiện. Đành vậy.
KS Hữu Trung – Xưởng phó xưởng khai thác có mặt trên tàu Krưm đã hơn 10 ngày. Từ 8 giờ sáng, các anh đã kiểm tra mọi khâu chuẩn bị để nhận dòng dầu công nghiệp. Vào lúc 10 giờ, bắt đầu bơm thử nước từ giàn khoan khai thác MSP-1 sang tàu Krưm. Xong việc, anh sốt ruột đi lại, chờ ngọn lửa – tín hiệu từ giàn khai thác. Năm phút sau khi chánh kỹ sư Pu–ri châm lửa ở pha–ken, tức là vào 10h35’ ngày 26/6, Trung thấy dòng dầu chảy vào tanke số 2 có sức chứa 2 vạn rưỡi tấn. Mừng quá, anh vội thảo bức điện trả lời giàn khoan số 1 (và cũng là trả lời cho tất cả chúng ta):
“Đã – nhận – được – dòng – dầu – đầu – tiên – của – Việt – Nam”.
Qua máy điện thoại, từng từ được nhấn mạnh, đủ biết anh đang xúc động đến nhường nào. Tan–ke số 2 này là một phần của tàu chở dầu Krưm – một trong số rất ít tàu lớn hiện có trên thế giới, dài 297m, rộng 50m và cao 45m, gồm tất cả 12 tan–ke với sức chứa tổng cộng 15 vạn tấn. Trên tàu có trang bị đầy đủ hệ thống chống cháy, hệ thống cân bằng áp lực .v..v.. Trước khi rót dầu vào tan–ke, Hữu Trung bảo: “cần phải đẩy hết không khí trong khoang và thay thế vào đó khí trơ để đảm bảo an toàn, vì hỗn hợp dầu – khí – không khí khi và chạm nhau, hoà lẫn vào nhau đến một mật độ nào đó sẽ tự bốc cháy”. Tàu còn có hệ thống tự động ghi lại trên băng giấy các số liệu về áp suất, nhiệt độ và lưu lượng dòng chảy. Hiện tại, lưu lượng dòng dầu gần như gấp đôi so với dư tính, có lẽ dần dần sẽ đạt tới ổn định ở mức thấp hơn, phù hợp với kết quả tính toán.
Tối hôm ấy, chúng tôi tập trung vui vẻ chúc mừng nhau tại phòng 222 khách sạn Mai Anh. Đây là phòng ở của tôi và KS Quốc Huy, làm công tác vật tư. Chuyện nở như ngô rang, từ trữ lượng dầu Việt Nam sang tình hình giá cả trong nước và giá dầu trên thị trường quốc tế. Nhiều người quan tâm đến vấn đề chế biến dầu thô và lạc quan đến mức “sắp tới các loai túi ni lông có đề CHẾ TẠO TỪ DẦU MỎ VIỆT NAM sẽ bán đầy thành phố”… Thế là lần lượt nâng ly cho đến khi sao trời mờ nhạt trong ánh ngày lên dần trên đỉnh núi Lớn. Khi tôi bước vào phòng làm việc, ông Trưởng phòng – TS. Nô–xen–kôv bảo:
- A–Ban, cậu cứ như bộ trưởng của chúng mình ấy.
Mọi người cười vang.
Tôi định kể lại câu chuyện tối qua, nhằm thanh minh lỗi đi chậm dăm phút của mình, nhưng vì đã có lệnh cấm rượu chè, đành nói: “vì còn mải mê kể chuyện khai thác dầu với bạn bè, nên đến chậm dăm phút, hãy thứ lỗi”. Quay sang Chánh kỹ sư của xí nghiệp địa – vật lý giếng khoan, anh Nguyễn Văn Tuyến và phó Giám đốc – TS. Vũ Ngọc An, sẵn đà tôi xin lỗi luôn bằng tiếng Nga. Mọi người càng cười to hơn. Xấu hổ quá, tôi đỏ hết mặt mày. Ở “VIETSOVPETRO” thời gian làm việc rất nghiêm ngặt, nhưng ai cũng tự giác thực hiện, không mấy khi đi chậm, dù là dăm phút. Chợt thấy Xla–va, trạm trưởng, tay xách túi du lịch to, màu đỏ đang đứng ở phòng can vẽ nói chuyện với các chị hoạ đồ, tôi mừng quá. Chúng tôi chạy ào lại bắt tay thăm hỏi nhau như đã lâu lắm rồi không gặp, mà thực ra anh chỉ đi phép về Liên–Xô một tháng. Tôi đùa: “Anh trở thành người mập mất rồi”. Xla–va cười thoải mái, để lộ chiếc răng khôn bọc bạc ở môi trái, phía trên. Vừa lúc ấy, anh Vũ Ngọc An cho tôi xem bức điện chúc mừng của Tổng giám đốc “VIETSOVPETRO” Ar–zan–nôv và phó TGĐ thứ nhất Nguyễn Ngọc Cư, in bằng hai thứ tiếng Việt – Nga có dấu tròn đỏ chót.
CHÚC MỪNG
“Ban lãnh đạo, Đảng uỷ và Ban chấp hành công đoàn Liên doanh dầu khí “VIETSOVPETRO” nhiệt liệt chúc mừng Tập thể quốc tế cán bộ công nhân viên Liên doanh dầu khí Việt – Xô và các tổ chức nhận thầu đã hoàn thành trước thời hạn nhiệm vụ chính của năm 1986 – Bắt đầu khai thác thử mỏ Bạch Hổ. Thắng lợi to lớn đạt được nhờ tinh thần dũng cảm, chủ động sáng tạo, mức độ đào tạo chuyên môn cao và sự làm việc quên mình, đã đánh dấu một mốc sáng mới trong sự phát triển hợp tác và củng cố tình hữu nghị giữa nhân dân Việt Nam và nhân dân Liên Xô. Việc khai thác dầu ở thềm lục địa phía Nam cộng hoà XHCN Việt Nam đã bắt đầu!”
Thế đấy! chuyện ở Thành phố nổi của chúng tôi kỳ lắm. Lắm gian nan thử thách khi đi vào lòng đất giữa biển khơi, mà cũng nhiều dũng cảm, hăng hay và nhiệt tình xây dựng cộng với lòng ham mê nghề nghiệp. Ngay cái anh chàng kỹ sư địa chất Va–lô–đia “bé” trước mặt tôi đây, thường ngày hay diện áo sọc, vàng nhạt với nốt ruồi nho nhỏ đậu ở phía bên trái khuôn mặt thanh tú, vẫn lo lắng về cô vợ trẻ xinh đẹp là nhân viên bán hàng ở Xa–kha–lin “sắp theo trai” vì anh làm việc ở đây đã gần ba năm… giờ đang nhọ nhem cả tay chân mặt mũi vì “dầu sống” vừa đập ra từ đá cát kết hạt thô. Anh rất vui khi chìa cho Klim–trúc và tôi xem mẫu đá chứa dầu và nói:
- Thật chưa bao giờ tôi trông thấy mẫu đá quý như thế trong đời!
Có thể kể ra đây hàng loạt những tấm gương điển hình như thế trong lao động ngoài biển khơi giữa gió giật sóng gầm. Có người thợ lặn anh hùng Liên Xô đã hy sinh ở nơi này vì sự nghiệp dầu khí Việt Nam…
Tại Liên doanh dầu khí Việt Xô, trước hết phải kể đến Cục khoan biển với chánh kỹ sư địa chất Trần Văn Hồi, đang dẫn đầu phong trào thi đua lao động XHCN, sau đấy là Xí nghiệp địa – vật lý của chúng tôi. XN địa – vật lý đã đạt được giải nhì với bảng vàng thi đua mà nhìn qua cũng đủ say sưa: số mét giếng đo địa – vật lý theo kế hoạch giao là 1290 m, thực tế hoàn thành 3800m. Các đội địa – vật lý xuất sắc gồm: Đội thử vỉa do Tô–phíc làm Đội trưởng và Đội ka–rô–ta tổng hợp của anh Đào Quang Hoà. Còn tên các cá nhân giỏi nhất ngành nghề được cô Trinh – kỹ thuật viên họa đồ tô đậm nét: Zmu–rôv, Lê Văn Hưng, Nguyễn Danh Dương .v.v..
Những cá nhân tiên tiến trên giàn khoan Ê–kha–bi thì được chụp ảnh to 9x12cm và dán ngay ở câu lạc bộ trong đó dễ nhận ra nhất là Kri–vet M.K – Đội trưởng địa – vật lý với nốt ruồi ở cằm trái, sau đấy là thợ khoan Xai–kô vạm vỡ, rồi thợ động cơ Pa–xtu–khôv…
Chúng tôi đã lao động quên mình vì dòng dầu dầu tiên của Việt nam và dòng dầu ấy đã phun lên tuôn chảy. Nay mai thôi, những tàu chở dầu loại nhỏ sẽ chạy nhộn nhịp khắp vùng biển, để vận chuyển dầu thô được chứa sẵn ở tàu Krưm về đất liền. Những con tàu mang “trăm sắc cờ thân ái” cũng sẽ quần tụ về đây cặp ở cả hai phía Trạm – rót dầu – không bến – Krưm. Trên sân bay trực thăng ở giàn khoan Ê–kha–bi, nói chuyện với Tuấn – công nhân trên giàn, mà tôi cứ như muốn gửi về Anh đôi điều tâm sự. Tuấn thích bắc cầu phao quanh thành phố nổi, còn tôi mê cầu treo với dáng vẻ nhẹ nhàng, hiện đại để rút ngắn những “thương nhớ Đông – Đoài” như có lần ai đó đã viết:
Hai đứa – hai giàn khoan trên biển
Mấy ngày đường một gang nước, ơi em?
(VB)
Anh Nguyễn Duy à,
Dòng dầu ấy đã phun lên, tuôn chảy. Nhưng đó chỉ là cái bắt đầu, cần phải nuối sống nó. Vấn đề đặt ra đối với chúng tôi bây giờ là phải tăng lưu lượng dầu để đủ làm công nghiệp, tất nhiên trong đó có phần để thắp đèn và chạy máy xát gạo. Cách duy nhất là khoan thêm nhiều giếng khai thác trên các giàn cố định, sao cho số lượng giếng cho dầu tăng gấp 12–16 lần số lượng các giàn khoan. Sẽ có giàn khoan khai thác 3, số 5… Để tranh thủ thời gian và tăng hiệu quả kinh tế, các kỹ sư thuộc Viện nghiên cứu dầu mỏ và thiết kế ở “VIETSOVPETRO” đã thiết kế và cho áp dụng phương pháp khoan xiên là phương pháp tiên tiến trên thế giới, nhưng thi công thì phức tạp vô cùng. Mũi khoan xuyên thẳng vào lòng đất khoảng dăm bảy trăm mét, sau đấy phải đi theo sự chỉ dẫn của con người theo hướng đã định, nhằm đạt tới những tầng sâu chứa sản phẩm. Muốn vậy, cứ khoan xiên được chừng 300m phải tiến hành đo độ lệch giếng khoan một lần để “hướng” đường đi cho mũi khoan. Việc đo và xử lý số liệu được tiến hành do Xí nghiệp địa – vật lý giếng khoan, vì vậy địa – vật lý trở thành tai mắt và là trọng tài cho các nhà địa chất và khoan trong công cuộc tìm kiếm “vàng đen” ở mỏ Bạch Hổ.
Dầu đã phun lên, nhưng tất cả còn ở phía trước.
Thế đấy, “Thành phố nổi” của chúng tôi đã qua một cú vặn mình sinh nở, để rồi phát triển mạnh mẽ hơn bất cứ lúc nào, nhằm đạt tới sự hoàn mỹ về quy mô của một thành phố lớn, mà trên đó phải có cả cây xanh.
Nhân dịp này, nhiều người đã làm thơ. Tôi nhớ đâu đó trên báo tường “VIETSOVPETRO” có viết:
Chúng tôi chọn chỗ đứng cho mình
Nơi trái đất chưa một lần lộ mặt
Biển với trời dệt mầu xanh bát ngát
Tự ngàn năm vẫn sóng gió hoang sơ.
… Ai bảo Vũng tàu bé tự bàn tay
Khi có chúng tôi xây “Thành phố nổi”…(VB)
Thực ra, chúng tôi có thể tìm cho mình nhiều chỗ ngon lành hơn. Nhưng nếu bảo những người thợ tìm dầu rời “Thành phố nổi” để lập nghiệp ở một nơi khác, dù là thành phố thật, chắc có mấy ai hẳn đã vui lòng. Phải đứng trên bờ thôi, dù là Tiền Cảng xôn xao, như chiều nay tôi đang đứng nơi đây, lòng cũng đã vơi đầy thương nhớ…
Tiền Cảng, 13/7/1986
Ê–kha–bi, 20/7/1986, Văn Bản.