Ê-kha-bi, 01/1986, VB.

Đó là một ngày thứ bảy.

Chúng tôi đến giàn khoan Ê–KHA–BI vào lúc tám giờ bốn mươi, khi mọi người đang hăng say làm việc. Tiếng máy khoan trầm đều. Đôi khi mũi khoan gặp lớp sỏi sạn bở rời/ hoặc bị bó do mùn khoan ứ đọng, làm rung bộ cần khoan, và vì thế gây rung chuyển nhẹ cả giàn khoan trên biển.

Trưởng giàn khoan A–na–tô–li và bí thư đảng ủy Nhi–cô–lai thân mật đón tiếp chúng tôi. Người bí thư chỉ tay bao quát toàn công trường, nói: "Hôm nay chúng tôi lao động Cộng sản chủ nghĩa. Trừ đội khoan và các kỹ sư trên trạm đo địa – vật lý phải gắn chặt vào máy, làm việc bình thường; toàn bộ số người có mặt còn lại trên giàn khoan đều tham gia tổng vệ sinh công nghiệp, thu dọn, xếp đặt những kiện thiết bị, cần ống và những thùng dầu mỡ các loại. Dưới chân cần cẩu, tốp thợ đang hàn những vệt cuối cùng trên chiếc thùng thép to dài cỡ bốn mét, cao và rộng chừng hai mét. Nhi–cô–lai giải thích: "Bể tắm của công nhân đấy. Chả là ở giữa biển mà tắm nước biển đâu phải chuyện dễ dàng!". Chúng tôi cùng cười vui và chợt nhìn xuống biển thẳm. Giàn khoan cao quá! cách mặt nước hơn 30m, dễ chừng trên đất liền chiều cao ấy xấp xỉ ngôi nhà 10 tầng còn gì? Nhìn xuống biển cũng đủ hoa mắt và không may sẩy chân thì cứ gọi là tan xương, ấy là chưa kể mực nước biển nơi này sâu hơn 50m. Vị chi, từ đáy biển tới mặt sàn khoan (bàn rô–to) đã hơn 80m, cộng với trụ tháp gần ấy nữa, với những máy móc, thiết bị hiện đại, những cần cẩu vươn dài… tất cả đã làm cho "giàn khoan di động – tự nâng Ê–kha–bi" này thực sự là một công trình vĩ đại, là công cụ có hiệu quả trong việc tìm kiếm dầu mỏ và khí đốt, đáng cho mỗi chúng ta tự hào trên bước đường xây dựng Chủ nghĩa xã hội.

Giàn khoan Ê-KHA-BI
GIÀN KHOAN Ê-KHA-BI

Tôi bắt đầu làm quen với điều kiện làm việc mới. Sống trên biển mà đâu có úi xùi được, vì giàn khoan sạch sẽ quá. Ngày xưa, vợ chồng thuyền chài sống với nhau trên sông, trên biển thì thế nào cũng xong, sản xuất nhỏ mà! Còn bây giờ, giàn khoan biển là cả một công trường bề thế, ngổn ngang. Hơn nữa, tôi lại là đại diện cho Xí nghiệp liên doanh "Vietsovpetro" ra thanh tra công việc của một đơn vị nhà thầu. Bloc nhà ở của chúng tôi có 4 tầng, gần 100 phòng. Như vậy, trừ những phòng làm việc, trên giàn khoan đủ chỗ cho cả trăm rưỡi người. Phòng của chúng tôi số 220, thoáng mát, sạch sẽ, máy điều hòa nhiệt độ làm việc suốt ngày đêm. Một bàn viết nhỏ kê sát trường, trên đó có những cuốn họa báo Liên Xô sặc sỡ. Trước bàn là một cửa kính tròn, đường kính chừng vài ngang tay. Nhìn qua cửa kính thấy mưa vẫn rơi nặng hạt trong khi công nhân đang làm, máy khoan vẫn chạy đều. Hai giường nhỏ chồng nhau, được bố trí vừa khít ngay phía bên trái căn phòng. Anh bạn cùng phòng ở với tôi – KS Võ Văn Thát làm công tác khí tượng thủy văn, đang đo gió và chiều cao sóng biển, nên vắng nhà. Còn tôi, tôi sẽ ở lại đây theo dõi việc đo địa – vật lý giếng khoan, kiểm tra – đánh giá chất lượng tài liệu đo được, tiến hành phân chia vỉa, xác định vỉa chứa dầu và liên kết địa tầng giếng khoan. Cuộc sống bắt đầu theo một phong cách cách mới. Chế độ làm việc 12h mỗi ngày, chỉ làm nửa tháng. Việc ăn uống được bảo đảm ngày 3 bữa, nhưng nếu cần, có thể bồi dưỡng thêm bất cứ lúc nào.

Tại trạm đo địa – vật lý giếng khoan, tôi gặp cùng một lúc tới bốn Xéc–gây và trạm trưởng Mi–kha–in. Bạn đường cùng ra giàn khoan lần này với tôi là Tô–phic – Đội trưởng thử vỉa, người A–dec–bai–jan nên cũng còn là mới đối với một số cán bộ Liên Xô trên giàn khoan vốn quê ở Viễn Đông, vùng Xa–kha–lin. Chúng tôi uống trà đường có thêm vài lát chanh mỏng (của quý đấy, chắc được cất giữ lâu ngày nên vỏ đã héo) và nhanh chóng làm quen với nhau. Qua câu chuyện tôi được biết Mi–kha–in đã từng làm việc cùng với các chuyên gia kỹ thuật của nhiều nước trên thế giới, trong đó có Đức, Nhật, Mỹ, Pháp, Thụy Điển… Vợ anh và con gái đang còn ở quê Xa–kha–lin. Tô–phic giới thiệu tôi với mọi người. Tự nhiên tôi được gọi bằng A–Ban, cái tên đa âm nghe nhẹ nhàng hẳn đi. Chả là trong quyển sổ của mình, tôi viết tắt chữ Anh bên cạnh tên. Tô–phíc nhìn thấy và tập đánh vần tiếng Việt, nghĩ đấy là tên cúng cơm, nên gọi thế cho thân mật. Ngược lại tôi cũng gọi các anh chàng Xéc–gây trẻ tuổi quanh mình là Xê–rô–da, Vla–đi–mia là Va–lô–đi–a cho dễ gần. Tôi cùng Mi–kha–in rà soát lại tổ hợp đo địa – vật lý và phân chia thứ tự đo các phương pháp, cốt sao có đủ các đường cong vật lý để nghiên cứu lòng đất trong giếng khoan, vì mẫu lõi quá ít. Ngoài kia, trời nắng, Xê–rô–da mang kính cận, cởi trần, đang tháo máy đo địa – vật lý cùng Xê–rô–da cao kiều. Các anh đang chuẩn bị máy giếng để đo ở khoảng chiều sâu 3000m. Tấm lưng trần của Xê–rô–da cận đẫm mồ hôi. Tháo máy xong hai người khuân vào trạm sửa chữa. Tại đây, ngoài dầu mỡ, clê, mỏ–let còn có rất nhiều linh kiện điện tử và các mạch lắp sẵn. Dụng cụ được sắp xếp gọn gàng. Những thao tác của các anh cực kỳ chính xác và cẩn thận. Thỉnh thoảng dừng tay để nghỉ ngơi, họ hút thuốc lá và gạt tàn vào ống sữa bò đặt cạnh ê–tô.

Khoảng hơn 6h chiều, xong công việc, Xê–rô–da rủ tôi ra lan can xem cá biển. Gió mát có mang theo vị mặn của biển cả, mùi thơm của dầu và tiếng động ầm ầm mạnh mẽ không ngừng của máy khoan. Chập choạng tối, điện sáng bừng như gọi cá bầy kéo đến quanh giàn khoan. Cá nhiều vô kể, có con dài đến vài mét đang tranh nhau ăn mồi ngay dưới chân giàn. Chỉ nhìn cũng đủ sướng mắt! Chúng tôi về phòng ở, tắm rửa, thay quần áo rồi xuống phòng ăn. Vào tầm 8h tối, bếp ăn đông người nhất. Ai cũng gọn gàng sạch sẽ sau giờ đổi ca. Đủ các loại chuyện rôm rả. Những phòng bên là câu lạc bộ. Phòng trong rất nhiều người xem phim video. Số còn lại ở ngoài chơi bi–a, kéo đàn gió và hút thuốc lá. Một ngày qua đi trong lao động hăng say và nghỉ ngơi thoải mái. Hôm sau tôi lên trạm GEOSERVICES, nơi Va–lô–đi–a làm việc. Đó là một tổ hợp thiết bị hiện đại dùng để nghiên cứu địa chất trong quá trình khoan, liên tục từ đầu cho đến khi kết thúc, giúp cho công việc khoan có kết quả. Anh mời tôi uống trà đường và bắt tay vào làm việc ngay. Sau khi đặt giấy vào máy vẽ, anh lắp đĩa mềm và ấn nút. Máy làm việc nhẹ nhàng, khéo léo vẽ lên giấy các kết quả xử lý số liệu. Trước đây nghe bạn tôi là Kim Trung – KS điện toán nói rằng, máy vẽ là công cụ đắc lực cho máy tính Trung tâm IBM, có vẽ được các loại bản đồ phục vụ cho việc tìm khoáng sản… tôi ngạc nhiên và rồi cũng quên đi. Bây giờ thấy các bản đồ/ sơ đồ phức tạp được vẽ ra trước mắt bằng nhiều màu khác nhau, tôi càng khâm phục trí thông minh và óc sáng tạo của con người. Va–lô–đi–a ký vào bản vẽ tặng tôi làm kỷ niệm lần đầu ra biển. Tôi tiếp tục nhận tài liệu đo nhiệt độ, tài liệu ka–rô–ta chuẩn và các tài liệu đo địa – vật lý giếng khoan khác. Lúc này, máy khoan vẫn quay đều nên trên trạm GEOSERVICES, máy móc liên tục ghi lại chiều sâu cùng tốc độ khoan (tính bằng số phút/m), hàm lượng thành phần và tổng hàm lượng khí xuất hiện trong quá trình khoan. Độ sâu thực tế là x. mét. Các con số lần lượt thay nhau trên nhiều băng điều khiển chỉ rõ tiến trình khoan và nhiệt độ của vỉa đất đá đã khoan qua. Tôi quay sang phía bên phải, nơi Va–lô–đi–a đang đãi mẫu mùn khoan và đem soi dưới kính để xác định thành phần đất đá. Trên giá sách có mấy chai đựng dầu thô. Những vỏ chai khác nhau được dùng để đựng dầu thô qua các lần thử vỉa. Tôi nhìn thấy trong đó có một vỏ chai nước khoáng "sản xuất tại Gru–di–a" đựng dầu: "Mỏ Bạch Hổ, GH. No… vỉa số 1, chiều sâu … Lấy mẫu ngày 15 tháng 1 năm 1985". Thuận tay, Va–lô–đi–a bật máy phát quang bi–tum và giới thiệu luôn mẫu dầu thô tôi thích. Thật ngạc nhiên, mẫu dầu thô đen xỉn thế kia lại có màu nâu sữa dưới ánh sáng tím của máy phát quang. Và cả mấy mẫu đá cát kết chứa dầu cũng phát quang màu vàng nhạt. Chúng tôi đang say sưa với những mẫu dầu, thì có tiếng gõ cửa. Cửa bật mở, hiện ra hai bộ ngực trần đẫm mồ hôi. Khuôn mặt các anh bị che lấp một phần dưới mũ bảo hộ lao động. Đó là những công nhân khoan, mà giọng nói hồn nhiên oang sang và cử chỉ mạnh mẽ của họ đủ biết gắn liền với công việc khoan nặng nhọc. Họ vào uống nước trà và hút thuốc lá rồi ra ngay. Va–lô–đi–a bảo tôi: "các anh ấy vẫn thường vào đây, vì vào nhà ăn hơi xa trong khi máy khoan vẫn chạy".

Vừa làm việc chúng tôi vừa kể chuyện quê hương. Anh bảo rất nhớ quê Kra–xnơ–đa với mùa hè hoa quả chín mọng, những vườn táo thơm lừng ngọt ngào, những quả an–tra chín đỏ, chín vàng từng chùm trĩu cánh, và dâu tây nhuộm tím môi bao cô gái … Vợ và con gái anh đang học lớp 9 ở Xa–kha–lin, nơi rét quanh năm, có khi âm năm chục độ C, chỉ trừ mùa hè – vào các tháng bảy, tám, chin – khi nhiệt độ cao dần tới hai mươi độ C. Bởi vậy, tuy nhớ nhà nhưng anh rất quí khí hậu nhiệt đới của ta, vì có thể làm việc giữa biển, ngoài trời quanh năm. Anh nói, khi chúng tôi đứng cạnh ô cửa sổ vuông mỗi chiều nửa mét có lưới và kính bảo hiểm, rằng biển ở đây lặng và rất đẹp vào các tháng tám đến tháng mười một. Những lúc đó, mặt biển êm đềm, phẳng như một tấm gương phản chiếu khổng lồ. Vào những ngày biển lặng, khi mặt trời vừa ló rạng nơi chân trời, mặt biển bừng sáng đến nhức mắt. Cùng cảnh tương tự, nhưng huyền ảo hơn, dịu hơn, là phút trăng lên. Và hơn lúc nào hết, Va–lô–đi–a bảo "rất nhớ nhà".

Vào các tháng mười hai đến tháng tư năm sau, biển nổi giận trước đống sắt thép và bàn tay vươn tới của con người, nổi sóng cao vài ba mét, gió rít gào liên tục cỡ hai mươi mét/giây. Nhưng bất lực vì choòng khoan vẫn quay đều để đạt tới những tầng sâu chứa sản phẩm dầu mỏ và khí đốt, nên rốt cục, biển trời phải trở lại bình yên.

Hôm đó, khoảng hơn 10h sáng, chiếc máy bay trực thăng VN–8402 hạ cánh xuống giàn khoan. Đoàn ra lần này có các bạn Liên Xô, các vị Lãnh đạo Tổng cục DK, trong đó có Ông Phan Tử Quang Tổng cục Phó – TCDK cùng nhiều cán bộ kỹ thuật Việt Nam đem phần thưởng của Nhà nước Việt Nam tặng cho tập thể CB–CNV giàn khoan Ê–KHA–BI. Một đồng chí Việt Nam ôm hoa tươi cười đến tặng Trưởng giàn khoan A–na–tô–li. Hoa ở đây rất quí, vì giữa đống sắt thép ngổn ngang, không có một màu xanh cây cỏ, ai nhìn cũng rưng rưng cảm động. Cô gái Nga xinh đẹp trong bộ váy màu xanh cẩm thạch, tươi cười đón và chỉ dẫn chỗ cho khách mới đến. A–na–tô–li không giữ hoa một mình. Anh đem hoa vào nhà ăn, cắm vào chiếc bình sứ đẹp, lùi lại vài bước rồi ngắm nhìn hồi lâu, miệng luôn xuýt xoa "tuyệt thật!". Bình hoa được đặt cạnh bình gốm trên có cắm ba bông lúa mì, tượng trưng cho lòng yêu quí và tôn trọng lao động – một truyền thống của Nga đáng cho tất cả mọi người học tập. Tại giàn khoan này, bạn có thể thấy những gương mặt tươi cười, những vầng trán thông minh, những khóe mắt đăm chiêu, những mái đầu đen chen những mái tóc vàng óng ả, tất cả cùng chung lo cho công việc dựng xây. Một điển hình: Xê–rô–da cao kều, mặc áo in chữ GEOSERVICES có hai ống tay áo rách đã được xé đến cầu vai cho gọn, dễ làm việc, quần bò Nga cũ còn độc túi bên trái, miệng ngậm tăm "diêm" đi lên trạm vật lý. Hoặc vào lúc nắng chiều gay gắt, một người thợ già ngồi trong buồng cẩu tranh thủ khâu lại giày bảo hộ lao động, khi không phải cẩu hàng… Người Nga trong lao động là thế đấy!

…Vào một buổi chiều, sau giờ làm việc, tôi mở cửa tầng hai thông ra biển. Gió biển ập vào mát rượi. Những lúc rảnh rỗi, tôi thích ra đây một mình vì là chỗ tạm yên tĩnh. Trên đầu tôi là sân bay lên thẳng, nhiều người tập chạy buổi chiều trên sân và xuống tắm nước biển trong chiếc bể sơn màu xanh tự tạo, đặt ngay cạnh cầu thang. Từ nơi đây, tôi nhìn sang giàn khoan khai thác số 1 chỉ cách vài cây số. Chếch về phía bên trái là những trụ thép khổng lồ của giàn khoan cố định số 2 đang lắp ráp. Điện sáng bừng một vùng biển trên nhiều giàn khoan, hòa với điện sáng trên các con tàu vận tải cỡ lớn quanh vùng biển, rồi điện sáng từ những con tàu Hải quân nhân dân Việt Nam bảo vệ sự thanh bình cho xứ sở, khiến tôi nghĩ về một Thành Phố Nổi trong tương lai. Dăm năm nữa thôi Thành Phố Nổi sẽ là sự thật, và nó phải là thành phố với đầy đủ qui mô hiện đại, có cầu treo nối liền các giàn khoan và nhất là phải có cây xanh…

Nhưng tên gọi của nó là gì nhỉ? THÀNH PHỐ NỔI, THÀNH PHỐ DẦU MỎ hay THÀNH PHỐ NIỀM TIN?

Ngay cả cái tên gọi cũng còn chưa được định hình. Vậy mà, chúng tôi đã và đang nghĩ tới nó với tất cả niềm say mê, tin tưởng và tự hào, bởi nó sẽ là thành phố đầu tiên trên biển của nước ta. Tự hào lắm ngay cả khi tiến hành những công việc bình thường nhất trên giàn khoan biển cho một thành phố tương lai.

Ê-kha-bi, 01/1986, Văn Bản.