11/1993

Trong những ngày này (11/1993), nhiều tin vui từ vùng mỏ Bạch Hổ - mỏ Rồng liên tiếp ập về Vũng Tàu. Giàn khoan tự nâng, hay còn gọi là giàn khoan di động mang tên Cửu Long, vừa mua 27 triệu USD từ Singapore về, đã hạ ba càng vững chãi xuống thềm lục địa Nam Việt Nam, sánh vai cùng giàn khoan tự nâng Tam Đảo đang trụ ở mỏ Rồng, bắt đầu khoan giếng mới để tăng thêm sản lượng dầu. Ở các giàn khoan cố định MSP - 8, 9, 10… nhiều giếng khoan trúng dầu đã được đưa vào khai thác, làm cho sản lượng dầu trong những ngày "nước rút" tăng nhanh, có ngày đạt 20 ngàn tấn, nhằm sớm đạt 20 triệu tấn dầu và để vượt kế hoạch năm 1993. Mọi người xôn xao phấn khởi và chờ đón, nhất là cán bộ CNV trong Xí nghiệp liên doanh dầu khí Việt - Xô (XNLD “Vietsovpetro” - VSP), vì chắc thế nào cũng sẽ được nhận phần thưởng xứng đáng do đã "Lao động quên mình vì sự nghiệp dầu - khí Việt Nam". Đài phát thanh và truyền hình tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, các báo địa phương và trung ương liên tiếp đưa tin về dầu - khí, tạo nên một không khí sôi động lạ thường chưa bao giờ có được kể từ khi Việt Nam khai thác tấn dầu thô đầu tiên, khiến chúng tôi là những người trong cuộc, mừng vui xen lẫn tự hào mà rằng "mặn này bõ nhạt ngày xưa ...".

I - Xuất xứ

Hồi ấy, chúng tôi công tác trong Đoàn nghiên cứu địa chất dầu - khí 36B thuộc Tổng cục địa chất (TCĐC) đóng tại khu nhà Thành, thị xã Hưng Yên - một miền quê yên ả, trù phú, ít nhiều mang dấu vết chiến tranh. Chúng tôi là một trong các đoàn nhỏ chuyên nghiên cứu về dầu - khí. Cùng với 36B còn có 36C ở Hà Bắc làm nhiệm vụ tìm kiếm thăm dò, 36F - công tác địa chấn, 36K - khoan các giếng khoan dầu khí, đóng ở Thái Bình ....

Còn nhớ, có một dạo dầu khí - duy ý chí, đã nhằm hướng tiến về ngã ba Lạt để lập cơ đồ. Ấy là vào mùa hè năm 1968, khi Đoàn 36 cử các kỹ sư, kỹ thuật viên địa - vật lý và trắc địa đi khảo sát địa chất khu vực các đảo Cồn Đen, Cồn Lu, Cồn Thông, Cồn Thủ - vùng ven biển các tỉnh Nam Định, Thái Bình. Do thiếu kinh phí và phương tiện tàu thuyền, dân địa chất phải đi theo các thuyền đánh cá, thực hiện cùng làm - ăn - ở với ngư dân, ngày ngày tham gia kéo lưới bắt cá, kết hợp khảo sát đo đạc chiều sâu biển, vẽ bản đồ các đảo, theo dõi sóng gió và thủy triều. Chuyện kể rằng đảo có tên là Cồn Đen vì những người nơi đây có nước da đen nhẻm, do cởi trần chang nắng gió suốt ngày đánh cá; Cồn Lu - là nơi có nhiều tôm cua; nơi trai gái, đàn ông đàn bà lặn lội bắt cua mò cáy mà không mặc quần. Họ lu (quấn) quần lên đầu để cho khỏi ướt, mà cũng chẳng sợ bị người khác nhòm ngó, vì ai cũng mải bận kiếm sống, chả còn hơi sức đâu mà nhìn; cái tên Cồn Thủ, Cồn Thông là do có nhiều cây thông và phi lao mọc.

Cũng chả ai biết sợ rằng ở nơi đây, khoảng năm mươi năm về trước đã từng có sóng thần cao hơn mười mét, trong một đêm đã nhấn chìm mấy xã ven biển huyện Thái Thụy, nhà cửa trôi dạt tan nát, nhiều người chết và mất tích, do vậy mà ngày nay cả khu vực này có một ngày để tang chung.

Dù sao, các đợt khảo sát cũng đã cho ít nhiều tư liệu để từ đó vạch ra được phương án tiến ra biển, khởi đầu cho việc thăm dò dầu - khí ở vùng biển phía Bắc nước ta. Nhìn các tư liệu thu thập được, các ông già đánh cá nơi đây đã có câu khen ngợi “các anh địa chất giỏi thật! Trên thông thiên văn, dưới tường địa lý. . .”

Sau khi có các số liệu địa vật lý ở vùng nước nông Đồng bằng sông Hồng, vị trí giếng khoan sâu tìm kiếm số 110 được xác định ở vùng Cồn Đen - đảo có chiều dài khoảng 10km, chiều ngang 500-700m. Cả Ta và Nga (Scor-duli và nnk) kéo thuyền ì ạch, hò nhau ra đảo dựng giàn khoan dầu - khí! Hàng trăm người vất vả đắp đập ngăn sóng hòng xây dựng làng dầu - khí tương lai.

Thật là duy ý chí, cả khi “giao cho quân đội rèn các mũi khoan để khoan giếng dầu”! Trong "DẦU KHÍ DIỄN NGHĨA”, hẵn ai đó còn nhớ:

..."Tháng 3, ngày 8. Đêm không trăng.

Tướng hai sao dẫn đầu vài trăm binh sỹ

Người ngậm tăm

Ngựa bỏ nhạc

Nhằm hướng thành Nam thẳng tiến..."

để rồi sau đó, sự không thành đã gây cho bao người dân thường lam lũ, lầm than.

Thật bất ngờ là có sự trùng hợp lý thú giữa hai sự kiện: 18/03/1975 - ngày mở màn chiến dịch giải phóng Sài Gòn, cũng là ngày phát hiện ra dòng dầu khí đầu tiên ở Tiền Hải - Thái Bình. Dù ngọn lửa chỉ bùng lên mấy phút nhưng đã khẳng định điều mà từ lâu cả nước mong đợi: Việt Nam có mỏ dầu khí (Công ty dầu - khí I, Thái Bình đã tiến hành thử vỉa thành công lần đầu tiên ở giếng khoan 61 - Tiền Hải). Ngọn lửa đốt thử dầu đã làm bùng lên quyết tâm giải phóng của biết bao chiến sỹ trên đường ra mặt trận.

Cũng vào khoảng thời gian đó, tại phía Nam, giai đoạn thăm dò thứ Nhất được tính cho các năm đầu thập niên 70, khi công tác địa chấn và khoan được triển khai tại các hợp đồng tô nhượng - ký giữa chính quyền Sài Gòn cũ và một số công ty nước ngoài như Mobil, Pecten, Marathon, UnionTexas, Sunning-dale ... mà kết quả đáng khích lệ là đã có một số phát hiện dầu - khí tại cấu tạo Mía -1X, Dừa -1X và Bạch Hổ -1X vào cuối năm 1974 - đầu 1975. Kết quả tổng hợp và đánh giá tài liệu có được cùng các thùng dầu thô do Công ty Mobil lấy lên từ giếng khoan BH-1X (lô 09) đã tạo điều kiện thuận lợi cho công tác tìm kiếm, thăm dò dầu - khí tiếp theo ở thềm lục địa Nam Việt Nam.

Dựa trên những kết quả tìm kiếm thăm dò dầu - khí thu được ở phía Bắc và phía Nam, ngày 09/08/1975 Bộ chính trị đã họp và ra nghị quyết số 244 NQ/TW về việc triển khai công tác tìm kiếm, thăm dò dầu khí trên phạm vi cả nước. Tổng cục dầu mỏ và khí đốt Việt Nam (TCDK) ra đời. TCDK được sinh ra sau nhiều trăn trở, dằn vặt của một người mẹ hiền hậu, nghèo nàn nhưng giàu lòng thương con, như bao bà mẹ hám con thời bao cấp - đó là TCĐC. Câu chuyện bắt đầu vào dịp Quốc khánh năm 1975, khi Hà Nội, Sài Gòn cùng cả nước tưng bừng kỷ niệm ngày Độc lập của dân tộc.

Tôi nhớ hôm chào mừng Quốc khánh, đã cùng Quốc Quân, Kim Trung, Vũ Sơn … vác đàn ra sân khấu nổi giữa hồ bán nguyệt - Phố Hiến để ca hát đến khản cả cổ:

"... địa chất chúng ta

Như những cánh chim bay xa ..."

Hôm sau, 03/09/1975 nghe thông báo: "Thủ tướng chính phủ ký quyết định thành lập TCDK nhằm tiến hành tìm kiếm, thăm dò, khai thác và chế biến dầu - khí trên phạm vi cả nước ..." (NQ-170/CP).

Chúng tôi ngỡ ngàng mừng vui vì cái tên gọi mới, địa bàn hoạt động mới, mà lòng lại lưu luyến bao kỷ niệm từ những chuyến lộ trình vừa qua. Nhớ trụ sở TCĐC tại nhà số 6 - Phạm Ngũ Lão - Hà Nội, nơi mà sau mỗi mùa thực địa, cánh kỹ thuật chúng tôi thường quần tụ về để báo cáo kết quả và thông qua các phương án thăm dò. Nơi đây đã ra đời những bản đồ chi tiết nhất cho từng vùng quê của Tổ quốc, trên đó có đánh dấu các mỏ vàng, sắt, kim loại quý hiếm .… Các địa danh heo hút đã trở nên gần gũi với chúng tôi: Đông Triều, Mạo Khê, Yên Tử, Sàng Thần … tận Đông Bắc; sang Giao Liêm, Lưỡng Mã hay An Châu, An Giang (mà sau này nhà địa chất Ngô Thường San, vì say mê các cấu tạo này, đã lấy tên chúng để đặt tên cho các con gái yêu của mình); rồi Mường Tè, Mường Cam, Phong thổ - Lai Châu đến Sinh Quyền, Suối Hút dọc triền sông Hồng, vào Yên Định - Thanh Hóa, hay vô tận Thạch Hà - Nghệ Tĩnh ....

Bàn chân các chàng trai địa chất đã ngang dọc khắp mọi miền đất nước tìm tài nguyên xây dựng nước Nam này, giờ đang dừng nơi đâu? Hỡi những bạn bè lâu ngày không gặp?

Đoàn 35 có anh Nguyễn Văn Thảo,

Trường trung cấp địa chất: anh Nguyễn Văn Khởi,

TCĐC: Anh Nguyễn Xuân Lương, Nguyễn Huệ, Nguyễn Khắc Đăng ...

Liên đoàn bản đồ: anh Phan Hồng Dân, Nguyễn Ngọc Hà …

Liên đoàn 6 có Nguyễn Văn Sinh,

Liên đoàn 8: anh Hoàng Thanh Cảnh...

Nhiều lắm, mà rồi biết có ai còn nhớ tới mình chăng, để cùng chia vui trong những phút giây này? Một số cán bộ và kỹ sư được cử đi Nam để xây dựng Công ty dầu - khí Nam Việt Nam theo QĐ/TCDK ngày 06/11/1975, có nhiệm vụ tìm kiếm thăm dò và khai thác dầu khí ở phía Nam.

Chúng tôi ra ở riêng với số vốn ít ỏi ở Hưng Yên, Thái Bình - đó là vài chục giếng khoan sâu, có nơi gặp vài vỉa dầu nhỏ, còn phần nhiều gặp khí đốt với trữ lượng không đáng kể.

Ở trong Nam, năm 1976, Đoàn 21 và 22 thuộc Công ty dầu - khí Nam Việt Nam đã triển khai các phương pháp đo từ, trọng lực, ký với CGG khảo sát địa chấn 2D trên một số tuyến dọc Tiền Giang, Hậu Giang và vùng nâng ven bờ; đã khoan 2 giếng Cửu Long-1 và Phụng Hiệp-1 tại đồng bằng sông Cửu Long, nhưng kết qủa không thu được dầu. Vào các năm từ 1977 tới 1979, một số hợp đồng Phân chia sản phẩm (PSC) được ký giữa TCDK với các công ty dầu khí nước ngoài như Deminex - Cộng hòa Liên bang Đức (lô 15) thuộc bể Cửu long, Agip - Italia (lô 4, 12) và BowValley - Canađa (lô 28-29) thuộc Bể Nam Côn Sơn, mà kết quả thu được là đã khoan 12 giếng, trong đó có một vài giếng phát hiện dầu - khí chưa đạt mức thương mại. Sau đó, các công ty này đều lặng lẽ rút khỏi hợp đồng dưới sức ép của Hoa Kỳ và Trung Hoa.

Thế là kết thúc giai đoạn thăm dò thứ II về tìm kiếm thăm dò dầu - khí trên biển thềm lục địa phía Nam, mà vẫn chưa có mỏ dầu nào được đưa vào khai thác. Mặc dù vậy, kết quả tài liệu thu được của hai giai đoạn này (trước năm 1975 và 1976 – 1980) đã tạo cơ sở rất thuận lợi cho công tác thăm dò và khai thác dầu - khí sau này ở thềm lục địa Nam Việt Nam.

Ngoài Bắc, tại giếng khoan 61 - Tiền Hải vào năm 1981 đã bắt đầu khai thác khí đốt để chạy tuốc-bin phát điện phục vụ cho công nghiệp địa phương. Nhưng rồi ... khí sụt sùi xem ra không đủ nung gạch và nấu cám heo. Đám kỹ sư lại phải kiếm rau bèo, hoặc lam lũ cho đủ ngày hai bữa. Bao thắc mắc nảy sinh trong đám kỹ thuật:

- Tại sao tôi không được đi xúc cát đêm qua?

- Tại sao tôi không được bốc gạch thuê?

- Tại sao tôi không được mua cáp cũ để làm đinh?

...

Tại sao và tại ai ở cái thời “thơ - Ông Danh, đanh - Ông Thám, cám - Ông Nghị, ký - Ông Ninh, tình - Ông Tuất, phất - Ông Hồi, ngồi - Ông Trang, sang - Ông Phúc, tục - Ông Chởi, tất tởi - Phô Chi ...” thì thật là khó mà phân xử!

Nhiều kẻ bỏ cuộc đã chuyển về làm cán bộ huyện này nọ ở Hưng Hà, Sóc Sơn, hoặc chuyển sang làm cán bộ tổ chức tận Nghệ Tĩnh...

Năm 1981, nhiều cán bộ và kỹ sư dầu - khí phía Bắc lại được cử đi Nam để xây dựng cơ ngơi mới - Xí nghiệp liên doanh dầu khí Việt - Xô (VSP). Ra đi cũng chỉ vì nhiệm vụ, chứ mấy ai đã quên được cái sự không thành, để rồi sống trong cảnh vợ Bắc - chồng Nam, nhất là khi đất nước đã có được hòa bình sau bao năm dài chiến tranh tàn khốc ....

II - Đất mới - Những dòng dầu đầu tiên

Ngày 19/06/1981 Hiệp định liên chính phủ Việt Nam và Liên Xô về việc thành lập VSP được ký kết. Ngày 19/11/1981, VSP chính thức được thành lập. Toàn bộ diện tích các lô 09, 15, 16 thuộc bể Cửu Long và các lô 04, 05 thuộc bể Nam Côn Sơn đã được VSP khảo sát địa chấn và tiến hành khoan thăm dò.

Cuộc chuyển quân dầu - khí từ Bắc vào Nam lần này dù có được tổ chức rầm rộ hơn, nhưng nào có mấy ai tình nguyện rời mái ấm để lên đường Thật bất ngờ, ngày 26/05/1984, tàu khoan Mi-kha-in Mir-chin đã phát hiện ra dòng dầu khí công nghiệp trong các lớp cát kết - trầm tích tuổi Mioxen tại GK BH-5, mỏ Bạch Hổ, làm xôn xao dư luận trong nước. Những cánh chim bay xa giờ đã có được “đất” trú chân. Ngọn lửa đốt thử dầu vẫy gọi nóng bỏng, khiến ai đó phải thốt lên:

"Chúng tôi chọn chỗ đứng cho mình

Nơi trái đất chưa một lần lộ mặt

Biển với trời dệt màu xanh bát ngát

Tự ngàn năm vẫn sóng gió hoang sơ..."

(V.B.)

15/02/1985, dàn khoan tự nâng Ê-kha-bi không những đã gia tăng trữ lượng dầu tuổi Mioxen tại GK BH-4, mà còn phát hiện thêm 2 tầng dầu mới trong trầm tích tuổi Oligoxen trên và Oligoxen dưới mỏ BH.

Ngày 07/05/1985, chúng tôi kỷ niệm chiến thắng Điện Biên phủ bằng việc kết thúc khoan giếng số 1 - mỏ Rồng. Tại đây, ngày 26/05/1985 thêm một lần phát hiện ra dầu công nghiệp cũng trong trầm tích tuổi Mioxen, mỏ Rồng với sự có mặt của các kỹ sư Đặng Của, Nguyễn Duy Quế, Lê Dức Hiến .…

Hơn một năm sau, giàn khoan cố định số MSP-I trên mỏ Bạch Hổ bắt đầu khai thác những tấn dầu công nghiệp đầu tiên trong trầm tích tuổi Mioxen. Đúng 10 giờ 30 phút ngày 26/06/1986, đồng chí Pu-ri, lúc ấy là chánh kỹ sư VSP, thay mặt đoàn cán bộ ra giàn khoan số I, đã tự tay mở van khai thác.

Dầu phun lên!

Tiếng hò reo phấn khởi bật dậy.

Cười. Khóc. Ôm hôn nhau... Có dầu!

Dòng dầu mong đợi từ tầng sâu được đưa qua hệ thống xử lý sơ bộ, để tách ra phần khí mang và kiểm tra lưu lượng, rồi tuôn chảy theo đường ống sang tàu chứa dầu siêu hạng Crưm (sau này mang tên Chí Linh). Năm phút sau, KS. Nguyễn Hữu Trung - xưởng phó xưởng khai thác lúc bấy giờ, quan sát thấy dầu chảy vào tan-ke số 2 có sức chứa hai vạn rưỡi tấn. Anh vội thảo bức thư trả lời giàn I : "Đã - nhận được - dòng - dầu - đầu tiên - của Việt Nam". Qua điện thoại, từng từ được nhấn mạnh đủ biết anh xúc động đến nhường nào.

Gần một năm sau nữa, ngày 21/04/1987 tàu chở dầu Niko-maru của Nhật đã cặp an toàn vào mạn tàu Crưm/ trạm-rót-dầu-không bến và bắt đầu ăn dầu. 17 giờ cùng ngày, tàu này rời bến. Thế là những tấn dầu thô đầu tiên của Việt Nam đã được bán ra thị trường Thế giới, góp phần nối liền hai bờ CŨ - MỚI của đất nước.

Sau đó, đã phát hiện thêm dòng dầu khí công nghiệp trong các lớp cát kết rất sạch và có chiều dày lớn - trầm tích tuổi Oligoxen tại Gk – 09 mỏ Đại Hùng.

Việc phát hiện ra dầu công nghiệp trong đá móng nứt nẻ trước Kainôzôi tại giếng khoan BH-6 mỏ Bạch Hổ là một sự kiện cực kỳ quan trọng, tình cờ và may mắn trong công tác tìm kiếm thăm dò và khai thác dầu khí ở Việt Nam, mở ra một hướng tìm kiếm thăm dò mới cần được quan tâm.  Giếng BH-6 bắt đầu khoan ngày 16 tháng 08 năm 1986, gặp móng tại 3510 m, khoan vào móng trước Kainôzôi 23 m; Kết thúc khoan ngày 05 tháng 5 năm 1987 ở độ sâu 3533m. Giếng khoan BH-6 nằm ở vùng yên ngựa giữa vòm Bắc và vòm Nam của mỏ Bạch Hổ có nhiệm vụ đánh giá tiềm năng của mỏ, xác định và vẽ bản đồ vỉa dầu Mioxen hạ. Giếng khoan được thiết kế để mở hết tầng sản phẩm Mioxen hạ, xuyên qua toàn bộ mặt cắt trầm tích Oligoxen và phải khoan vào móng 18 m, lấy mẫu lõi ở móng để khẳng định đã khoan hết mặt cắt trầm tích. Vì đối tượng là phần trầm tích nên khi khoan đã mở vào móng chỉ có 23m (sâu hơn dự kiến 5m), lấy mẫu móng 3520,2-3522,9m để nghiên cứu đặc tính móng kết tinh. Đối tượng thử đầu tiên nằm ở tầng móng thân trần được tiến hành bằng việc bắn hai quả torpedor có sức công phá lớn để bảo đảm cho việc gọi dòng đạt kết quả. Khi thử vỉa ở đối tượng móng nứt nẻ thu được dòng dầu 477.1 tấn/ ngày đêm ở chế độ côn 15mm. Mọi người đều vui mừng với kết quả này và cho rằng dầu thu được là từ tầng Oligoxen chảy xuống móng. Tuy nhiên, có một số nhà địa chất- địa vật lý vẫn còn trăn trở về kết quả này, vì họ nghĩ rằng: dầu từ móng nứt nẻ nhưng không dám nói ra, doì chỉ quen tìm dầu trong trầm tích, chưa hề thấy có tiền lệ bao giờ. Sau khi thử phần móng, GK được chống ống, trám ximăng và bắn vỉa tầng VI-Oligoxen (chú ý các tầng VII, VIII, IX, X - vắng mặt vì bị cắt bởi đứt gẫy). Kết quả là thu được dòng dầu tự phun có lưu lượng tương đương dầu thu được ở đối tượng thử đầu tiên, đạt 480 tấn/ ngày đêm. Trong khoảng thời gian hơn một năm sau đó, đã nhiều lần xẩy ra tranh luận gay gắt giữa một số nhà địa vật lý và địa chất về dầu thu được tại BH-6, do vậy giám đốc XN khoan lúc đó là Phuntôv A.M. lợi dụng việc khoan sửa giếng giàn MSP-1 đã đề xuất tận dụng GK BH-1 đang khai thác tầng dầu Mioxen có sản lượng thấp để thử lại tầng móng. Quá bất ngờ, 06/09/1988 VSP thu được dòng dầu tự phun cực mạnh, hơn 1000 T/ ngày đêm qua bộ cần khoan. Người ta vội vàng lấy mẫu dầu, nghiên cứu - so sánh và nhận ra dầu BH-1 có các đặc trưng giống dầu móng BH-6. Như vậy, dầu ở giếng BH-6 là dầu tự phun từ dá móng nứt nẻ (không phải từ tầng VI- Oligoxen). BH-6 được minh oan và là giếng khoan đầu tiên phát hiện ra dầu trong đá móng nứt nẻ trước Kainôzôi tại mỏ Bạch Hổ.

Cần giải thích thêm, rằng: cho đến thời điểm phát hiện ra dầu trong đá móng nứt nẻ trước Kainôzôi tại mỏ BH, các nhà dầu khí VN chỉ quen với việc tìm dầu trong các vỉa cát kết trầm tích có độ rỗng - độ thấm cho phép, cụ thể:

- chỉ mới nhìn thấy (18/03/1975) mấy mẫu đá cát kết chứa dầu trong đá trầm tích tuổi Mioxen ở giếng khoan 61 - Tiền Hải – Thái Bình;

- và sau khi thống nhất đất nước, thấy các thùng dầu thô do Công ty Mobil lấy lên cũng từ trầm tích tuổi Mioxen, giếng khoan BH-1X (lô 09) ở thềm lục địa Nam Việt Nam. Công ty Mobil cũng không nghĩ rằng trong đá móng nằm dưới trầm tích Mioxen BH-1X có chứa dầu – có thể họ đã không gặp may (?!)

- trong lý thuyết cơ sở tìm dầu (mà chủ yếu là sách tiếng Nga) không thấy nêu các mỏ dầu trong đá móng.

Như vậy, có thể khẳng định, rằng tới thời điểm phát hiện ra dầu trong đá móng nứt nẻ trước Kainôzôi tại mỏ Bạch Hổ, phần lớn các nhà địa chất dầu khí VN không hề biết: vào những năm 1950, đá chứa trong móng được phát hiện bằng sự tình cờ, khi móng của mỏ La Paz ở Vênêzuêla được khoan qua. Các giếng khoan tới móng bắt đầu vào năm 1948 và kết thúc năm 1953. Ở mỏ La Paz, người ta quan sát thấy dầu từ đá vôi Creta thường được chứa trong các nứt nẻ tập trung ở đỉnh nếp vồng, từ đó đã đi đến suy luận là “NẾU ĐÁ MÓNG NẰM DƯỚI BỊ UỐN NẾP, PHÁ HUỶ VÀ CÓ NHIỀU NỨT NẺ THÌ CHÚNG CŨNG CÓ THỂ CHỨA DẦU” (Pa'n, 1982) [1, 2]. Hai giếng khoan đầu tiên khoan xuống đá chứa móng đã bị thất bại. Nhưng ở giếng thứ ba, giếng số 86 của Shell, khoan vào 4/1953, khi thử vỉa đã cho dòng dầu 34 độ API là 3900 thùng/ngày đêm. Năm 1955, mỏ La Paz khai thác với sản lượng 80.000 thùng/ngày đêm và đã sản xuất ra tổng cộng hơn 500 triệu thùng từ móng (Bueno và Avila, 1987)) [1]. Cuối những năm 1950, đầu những năm 1960, nhiều đá chứa trong móng có quy mô lớn được tìm thấy ở Libi và Angiêri. Dầu trong đá móng được chú ý nhiều bắt đầu vào những năm 1960. Từ đó đến nay, có hơn 30 mỏ dầu khí trong móng được phát hiện, nhưng đa số các mỏ dầu trong móng trên thế giới đều có sản lượng thấp, ít có mũ khí. Ví dụ có giếng chỉ cho 28 thùng/ ngày đêm (Shaim - Russia), 100 thùng (Silica - Kansas), 210-756 thùng (Xinglongtai - China). Lớn nhất là mỏ dầu móng Bạch Hổ - bể Cửu long, thềm lục địa Việt Nam (khoảng 240.000 thùng/ ngày đêm, chiếm trên 90% sản lượng toàn mỏ) [3], nơi đã khai thác được gần một tỷ thùng dầu trong hai chục năm qua. Các mỏ dầu móng khác (Rồng, Ruby, Rạng Đông. . .) cũng thuộc bể Cửu Long nhưng đều có sản lượng thấp hơn.

Chính đối tượng móng nứt nẻ đã cung cấp cho XNLD và ngành công nghiệp Dầu Khí Việt Nam một sản lượng dầu to lớn hàng trăm triệu tấn; và mỏ Bạch Hổ với trữ lượng lớn trở thành một mỏ dầu nổi tiếng ở khu vực Đông Nam Á và thế giới, thu hút được sự chú ý của những người làm công tác dầu khí ở trong nước và nước ngoài.

Đó là dạo VSP phát triển ào ạt nhất và tương đối ổn định cho đến ngày dầu - khí lên lương (1991). Sau đó thì cuộc chạy đua vào VSP mới trở nên khẩn trương và sôi động ở khắp mọi miền Bắc - Trung - Nam, mà nay, xem ra đã tới hồi chững lại. Suốt thời gian qua, đã có hàng trăm bài báo và các bức ảnh màu ghi lại những hoạt động của công cuộc tìm kiếm - thăm dò và khai thác dầu - khí. Bài nào cũng đề cập đến máy bay cất cánh - hạ cánh, rồi thì các giàn khoan thép khổng lồ, hay là ngọn lửa từ các pha-ken rực cháy. Đúng là vùng mỏ đã có quy mô rộng lớn với 10 giàn khoan - khai thác cố định (MSP) và các giàn nhẹ (BK), cùng các giàn khoan tự nâng và các con tàu dịch vụ cỡ lớn nhộn nhịp đi - về. Việc khoan khai thác mỏ Rồng càng mở rộng thêm "đất mới", để chập chiều, điện sáng bừng lên cùng với hàng loạt pha-ken rực sáng trên chiều dài hơn 30 km trải rộng, khiến cho "thành phố nổi" của chúng tôi thật sự huy hoàng.Top of Form

Vậy, nhưng như ngươì ta thường nói:"chiến thắng nào mà không có đổ máu", VSP cũng không nằm ngoài quy luật chung.

Thay cho đoạn kết bài viết này, tôi muốn dành một phút trong những ngày vui, tưởng nhớ đến tới những người đã hy sinh trên đất mới "vì sự nghiệp dầu - khí Việt Nam". Số người này đã dăm chục kể từ khi ta khai thác dầu, trong đó có người thợ lặn - anh hùng Liên Xô (cũ), có các bạn từ những nước cộng hòa khác nhau, đó là Dlu-ghi, Za-be-lin, Pô-pôv...đó là Nguyễn Hữu Trung, Lưu Văn Tâm, Trương Xuân Hoàng (KS địa - vật lý, nhà thơ tài năng bạc mệnh) ...và mới đây thôi là anh Hà Văn Mạo.

Chúng tôi tiễn đưa anh tới nghĩa trang. Đường gập ghềnh quanh co. Cạnh đấy, trong số những nấm mồ còn mới, có cả em Quảng - công nhân Xí nghiệp dịch vụ - VSP vừa mới mất tuần trước, do bị cảm đột ngột sau khi đi làm ca 3 về. Thật là "đời người được mấy giấc mơ"

Anh Mạo mất đi đã kịp để lại công trình về điều chế dung dịch cho các giếng khoan sâu. Trong đám người đưa tiễn, tôi nhận ra những mái đầu hoa râm, lứa tuổi cùng người quá cố xen giữa vô vàn những mái đầu xanh. Những gương mặt bạn bè tôi: Thanh, Chiến.. từ Sài gòn vừa xuống kịp; Học, Giáp, Nhuận, Qúy, Võ Thanh...ở Viện nghiên cứu khoa học và thiết kế các công trình dầu - khí biển; Hòa, Diệp, Hưng...ở XN. Địa vật lý giếng khoan; Thùy, Ngà, Nhưỡng...từ XN. khoan biển. Loáng thoáng trong đầu...nhưng hầu như đủ cả, chỉ trừ ai đó còn bận công việc trên các giàn khoan. Tôi lẩm bẩm "chết đi nhưng không hết" bởi dòng dầu mãi còn tuôn chảy, để mãi mãi vang lên :

...Mùa xuân từ những giàn khoan..


PS: Các số liệu GK BH-6 đã được chỉnh sửa theo “VIETSOVPETRO - 20 năm xây dựng và phát triển”/ NXB chính trị quốc gia, HN- 2001.