Xung quanh sự kiện lần đầu tiên Việt Nam xuất khẩu dầu thô ra thị trường thế giới, tôi đã có một vài ghi chép, nhưng rồi lần lữa mãi mà chẳng muốn gửi đăng báo, bởi tôi cho rằng độc giả ngày nay vốn đã quen với cái cách tuyên truyền phiến diện, biết đâu lại chẳng cho rằng tôi là loại kiếm chuyện nói cho vui. Hơn nữa, tôi cũng có phần chủ quan vì cứ tưởng sự kiện quan trọng này thế nào chả lọt vào tay các phóng viên chuyên nghiệp và vài tay phó nháy có cỡ, thế thì hạng nghiệp dư chúng tôi ra rìa là chuyện thường tình.

Ấy vậy mà vài tháng qua đi kể từ khi sự kiện to lớn này xẩy ra, chỉ thấy xuất hiện vài dòng trên trang nhất báo "Nhân Dân" và một bài viết nhỏ của ông Kim Nhữ - Giám đốc đại lý tàu biển Vũng Tàu – Côn Đảo. Nội dung các bài viết này chủ yếu mang tính chất thông báo, không thêm vài lời bình luận nào cả! Trong khi đó, các báo và đài phương Tây cứ ầm ĩ cả tháng liền. Họ nêu sự kiện lần đầu tiên Việt Nam bán dầu thô cho Nhật như là một bước nhảy vọt trong nền kinh tế vốn trì trệ và thấp kém của Việt Nam, bình luận về tương lai của Việt Nam, rồi thậm chí còn có ý răn đe những khách hàng đến mua dầu thô Việt Nam, mặc dù họ biết rõ người Nhật có thừa trí thông minh để chơi lại tất cả các trò trên một cách dễ dàng. Còn trên báo "Sự thật Đoàn TNCS Lê-nin" thì có đăng một bài khá dài với tên gọi "Chinh phục hổ trắng" của phóng viên Ser-ba-côv mô tả Vũng Tàu đẹp về danh lam thắng cảnh, nồng cháy tình anh em hữu nghị Việt-Xô và nói về những thành tựu đã đạt được trong công cuộc thăm dò – khai thác dầu khí ở thềm lục địa Nam Việt Nam. Tóm lại, việc bán dầu thô Việt Nam đã xẩy ra, đang xẩy ra và không ngừng gia tăng. Ngày 28-12-1988 khai thác được MỘT TRIỆU TẤN, và mỗi ngày qua đi, đã có thêm dăm bảy ngàn tấn dầu thô được khai thác từ lòng đất mẹ Việt Nam.

Chiếc tàu chở dầu chuyên dùng của Nhật Bản, được lắp đồng bộ một loại đèn nê-ôn màu xanh nhạt ở hai tầng trên, thành ra, giữa các vầng sáng vàng của các pha-ken khai thác dầu, giữa những ngọn đèn nhiều màu của giàn khoan MSP-1, của trạm rót dầu không bến Krum, nó nổi lên bình thản và có phần khiêm tốn giữa bề bộn sắc màu dựng xây trong một khung cảnh đất nước thái bình.

Hồi 12 giờ ngày 21 tháng 4 năm 1987, tàu Ni-kô-ma-ru này cập an toàn vào mạn Đông Bắc tàu Krum. Chiều hôm đó nó bắt đầu ăn dầu, những tấn dầu thô Việt Nam màu nâu – vàng sóng sánh, tỷ trọng khá nhẹ. Cho mãi tới chiều hôm sau, vào lúc 14 giờ, việc nhận dầu mới hoàn tất, và Ni-kô-ma-ru nặng nề rời bến lúc 17 giờ cùng ngày, nhường chỗ cho chiếc tàu chở dầu tiếp theo cũng của Nhật. Thế là những vạn tấn dầu thô đầu tiên của Việt Nam được xuất khẩu ra thị trường thế giới.

Thời gian qua đi, tất cả những chuyện ấy cũng đã trở thành quen thuộc. Tàu đến, tàu đi gây thêm phần sôi động ở THÀNH PHỐ NỔI của chúng tôi. Chưa nhiều đâu "những sắc cờ thân ái" nhưng rõ ràng việc tìm kiếm – khai thác dầu khí ở thềm lục địa Việt Nam đã mang lại kết quả nhất định, và rõ ràng chúng ta đã với tay ra được thị trường thế giới trong lĩnh vực này. Tất nhiên hiệu quả kinh tế của công việc còn cần phải đánh giá một cách nghiêm túc qua ý kiến của các chuyên viên kinh tế.

Vào dịp lễ Quốc khánh Việt Nam 1988 khi chúng tôi đang công tác trên giàn khoan tự nâng TAM ĐẢO thì được trưởng giàn tập trung lại nhận nhiệm vụ mới. Tất cả cán bộ công nhân Việt Nam – Liên Xô có mặt trên giàn khoan, trừ kíp khoan đang dở dang công việc, đều nhanh chóng tập trung tại sân nhỏ cạnh cầu thang lên sân máy bay. Giàn trưởng hỏi tất cả chúng tôi xem ai là người biết đánh bóng chuyền và đá bóng. Chuyện gì mà lạ đời thế nhỉ? Giữa biển khơi mà còn tính chuyện bóng banh làm gì, sẩy chân xuống biển thì chỉ có rồi đời.

Thì ra đội trưởng câu lạc bộ thể thao của trạm Krum mời chúng tôi sang tham dự các trận đấu thể thao tại sân nhà, nhân kỷ niệm Quốc khánh Việt Nam. Tôi hăng hái xung phong không phải vì mình đánh bóng giỏi, cốt sao được mục kích Krum. Chúng tôi xuống xuồng cứu sinh. Hệ thống tời của xuồng hoạt động cùng lúc với tiếng giàn trưởng nghe rất rõ qua máy bộ đàm chúc thắng lợi. Lửng lơ giữa trời và biển, vậy mà khuôn mặt chúng tôi ai cũng phấn chấn vui vẻ. Thầy giáo Nguyễn Văn Phơn, từ trường Đại học Mỏ - Địa chất Hà Nội vào công tác cũng được phép giàn trưởng sang thăm Krum. Ngồi bên cạnh tôi, thầy tấm tắc khâm phục quy mô rộng lớn của vùng biển công nghiệp. Xuồng cứu sinh nhẹ nhàng chạm biển và nổ máy lao nhanh về hướng Tây Nam. Mặt trời chiếu sáng vàng trên vùng biển thân yêu của Tổ quốc, làm nổi rõ những giàn khoan, những con tàu nhiều màu rực rỡ đang hoạt động nhộn nhịp.

Từ trên giàn khoan TAM ĐẢO nhìn về Krum, chúng tôi thấy gần gũi là thế, vậy mà xuồng cứu sinh mở hết tốc lực cũng phải chạy mất nửa tiếng đồng hồ. Gần 6 giờ chiều, chúng tôi cập vào mạn tàu Krum, leo lên cầu thang di động để lên sàn tàu. Chúng tôi được đón tiếp nồng nhiệt. Người ở biển vốn vẫn vậy, quý khách và nói rất to, có lẽ do quá quen với sóng to gió lớn. Chúng tôi vào ngay sân bóng chuyền nằm ở tầng bốn phía bên trái blốc nhà ở. Hai hàng đèn cao áp gồm 14 chiếc được bật sáng nổi rõ các vạch sơn trắng ở sân bóng chuyền. Sau vài câu chúc tụng, hai đội cởi quần áo dài vào sân khởi động giữa tiếng reo hò phấn khởi của cổ động viên. Tôi nhìn lại đội hình TAM ĐẢO và phải phì cười vì anh chàng Gri-sa – bí thư đoàn thanh niên thì cao mà gầy, mấy anh thợ khoan thì mập, lùn, còn tôi xem ra bé nhất đội hình. Đã thế, quần áo đội TAM ĐẢO lại lem nhem trong khi đội chủ nhà vừa to con lại mặc đồng phục áo đỏ quần trắng trông rất đáng gờm. Trận đấu diễn ra vui vẻ và đẹp mắt. Bóng liên tục được nâng và đập về phía đối phương. Nhiều cú đập không chính xác làm bóng bật vào hàng rào thép vây quanh. Khán giả hò reo ủng hộ cả hai phía rất vô tư, tuy vậy vì lâu ngày không luyện tập, đội chúng tôi đã thua một cách đích đáng. Cùng thời gian ấy diễn ra đấu cờ vua. Kết thúc bóng chuyền là bóng đá mini. Cuộc vui kéo dài gần hai tiếng đồng hồ, sau đấy là tắm nước biển trong bồn tắm rộng gần 32 m² ở tầng 5. Cô gái Nga Xve-ta xinh đẹp – người duy nhất đại diện cho phái nữ ở trên tàu Krum – chơi trò té nước, khiến mấy anh chàng thợ khoan phải lặn xuống ngoi lên và cười ha hả. Lúc này, tôi có dịp làm quen với kỹ sư Đỗ Thanh Chỉnh, người Việt Nam duy nhất trên tàu. Anh là kỹ sư công nghệ lọc – hóa dầu, tốt nghiệp ở Ba-Cu năm 1984, quay lại Liên Xô thực tập năm 1985 và bắt đầu làm ở Liên doanh Vietsopetro từ năm 1987. Anh chỉ lên ống khói cao hơn tầng 6 của tàu cỡ 10m và nói đùa: "Tàu rất cao, nếu không may bị chìm thì cũng không thể chìm hết". Tôi ngạc nhiên vì mực nước biển nơi này sâu hơn năm chục mét. Anh giải thích:

Đây là một trong số 7 tàu chứa dầu có dung tích 15 vạn tấn của Liên Xô, dài 295,2m, rộng 45m, trên tàu có 30 người phần lớn là thủy thủ, hai thợ máy bơm, một bác sĩ và một thông tin liên lạc. Em làm phần công nghệ lọc nước ra khỏi dầu. Với tốc độ khai thác hiện nay, chỉ vài tháng là đầy ắp dầu toàn bộ 12 khoang chứa của tàu. Nhiệm vụ quan trọng nhất của tàu là phải đảm bảo an toàn. Chỗ nào cũng có thể bị cháy, bởi vậy chỉ được hút thuốc ở những nơi quy định. Tiếp đến là phần nung nóng dầu liên tục ở nhiệt độ 38°C rồi tách nhũ tương và tách nước ra…

Chúng tôi vào phòng của anh, thấy có nhiều sách vở và tạp chí. Anh tâm sự: "Ở đây một mình em là người Việt Nam, nhiều khi nhớ đất liền và nhớ vợ con quá. Đã ba tháng liền em chưa được đổi ca…" Chia tay anh, chúng tôi hẹn gặp nhau ở đất liền. Nhưng rồi công việc cuốn hút và vì những lần đi biển cứ lệch pha nhau, thành ra tôi vẫn chưa gặp lại được anh kỹ sư công nghệ đầy nhiệt tình và vốn nổi tiếng một thời là vô địch cờ quốc tế ở trường Dầu Ba-Cu.

Như vậy là tại Liên doanh "VIETSOPETRO" đã khép kín các bước công việc từ thiết kế đến xây lắp – khoan – đo địa lý giếng khoan (karôta) – khai thác. Bước nọ làm cầu cho bước kia, ví dụ không xây lắp giàn khoan kịp thời thì rõ ràng không có chỗ để khoan, còn nếu khoan bị kẹt thì không thể đo karôta. Riêng phần karôta phải đo và xác định chính xác chiều sâu thế nằm của vỉa, độ bão hòa dầu (hay nước) của vỉa và phải bắn mìn mở vỉa dầu để đưa giếng khoan vào khai thác một cách nhanh chóng. Việc chứa dầu ở ngoài biển nhờ tàu chở dầu Krum cũng là một vấn đề phức tạp. Muốn vận chuyển dầu tới tàu Krum, phải xây dựng khoảng 16km đường ống ngầm dưới biển và đảm bảo áp suất bơm liên tục trong ống là 80 atmôtpe. Việc nung nóng dầu trên tàu cần khá nhiều nhiên liệu để chạy 4 máy phát điện cỡ lớn và tính chung mỗi ngày đêm phải trả tiền thuê tàu chừng 12 triệu đồng Việt Nam. Rồi hệ thống tách nước ra khỏi dầu cũng phải hiện đại làm sao khi xả nước ra biển không còn sót lại một váng dầu nào. Cứ trung bình trong dầu mỏ của ta chứa từ 1-3% nước thì lượng nước phải tách mỗi ngày cũng phải dăm bảy chục m³… Tất cả mọi điều nêu trên đã làm phức tạp hóa vấn đề khai thác dầu, dẫn đến những chi phí vô cùng to lớn ngoài biển. Các vấn đề liên quan đến quá trình khai thác dầu cần phải giải quyết đồng bộ, đó là hóa lỏng khí cháy và tích trữ chúng, nhưng chúng ta chưa làm được.

Tôi có anh bạn láng giềng tên là Lâm Quang Chiến – kỹ sư thiết kế đường ống dẫn dầu. Sau nhiều lần khảo sát vùng biển và địa hình kéo dài từ Long Hải qua Bà Rịa lên Tuy Hạ, anh cùng tập thể thiết kế đã đưa ra phương án tối ưu để lắp đặt hệ thống đường ống dẫn dầu với tổng số chiều dài khoảng trăm rưỡi km. Công trình sẽ được tiến hành, bởi vậy có thể hy vọng trong tương lai, nó sẽ góp phần giảm nhẹ được giá thành khai thác dầu khí ngoài biển.

Vào những ngày cuối năm 1988, các đơn vị trong liên doanh "Vietsopetro" rầm rộ bước vào vòng đua chung kết không phải để đạt kế hoạch sản xuất của năm 1988 nữa, mà để đạt số phần trăm vượt kế hoạch cao hơn so với đơn vị bạn. Tại phòng làm việc của anh Phạm Thế Cầu ở tầng ba nhà tháp tròn cạnh cảng dầu – khí, nơi điều hành sản xuất của Xí nghiệp địa – vật lý, chúng tôi liên tiếp nhận được nhiều tin vui từ các giàn khoan gửi về:

  • Giàn khoan MSP-1: Hoàn thành việc bắn mìn bổ sung ở giếng khoan số 36.
  • Giàn khoan MSP-3: Đã khoan thêm 448m. Sắp đo địa – vật lý và chuẩn bị bắn mìn.
  • Giàn 4 giếng 83: Chiều sâu 3183m, chờ đo địa – vật lý.
  • Giàn 5… Giàn 6…

Còn khi làm việc với anh Trần Văn Hồi – Chánh địa chất Cục khoan biển, đóng ở tầng 3 dãy nhà gần Tiền cảng, khi nhìn lại những chai lọ dầu thô màu nâu đen – nâu vàng sóng sánh, được lấy lên từ những giếng khoan khác nhau, đang đặt ở cạnh tường hoặc phía sau tủ lạnh, tự nhiên tôi nảy ra ý định đem góp chúng vào Viện Bảo tàng lịch sử. Nghe nói vậy, anh Hồi bỗng cười phá lên và bảo:

– Ờ, hay đấy, xứng đáng quá đi chứ! Các mẫu dầu này có được là do tri thức, mồ hôi và công sức của mấy thế hệ dầu khí, cộng với thiết bị hiện đại. Nhưng tại sao ta không thành lập bảo tàng dầu-khí nhỉ?

Theo đơn đặt hàng của anh Hồi, chúng tôi kịp có mặt trên giàn khoan MSP-3 để liên kết bắn mìn giếng khoan số 69.

Khác với các lần trước, những khuôn mặt lần này gặp gỡ chúng tôi phần lớn đều quen thuộc và điểm dễ nhận thấy trước hết là trên giàn khoan, số anh em Việt Nam đông hơn. Điều này chứng tỏ việc đào tạo kèm cặp giúp đỡ của các bạn Liên Xô đã có kết quả.

Đốc công khoan Nguyễn Văn Biên có dáng "cao hơn Tây, gầy hơn ta" đang chỉ huy việc thả cần ống khai thác. Anh cười hể hả khi nói về tập thể lao động của mình, để lộ những chiếc răng ám khói thuốc lâu ngày:

– Giếng khoan số 69 này chúng tôi thi công nhanh, không phải chỉ vì chúng tôi có một ê-kíp đồng bộ, đều tay, mà còn vì được dùng cần khoan loại mới. Với thiết bị này, chúng tôi chỉ cần 20 ngày là khoan xong một giếng có chiều sâu 3000m.

Tôi chưa kịp điều tra, đã thấy anh cười suýt soa:

– Đúng là cần khoan Mỹ có khá hơn… Thế là mọi người có mặt khi ấy trên trạm Karôta đều cười rộ lên vui vẻ. Đúng thật, sản phẩm của khoa học – kỹ thuật tiên tiến, của nền công nghiệp hiện đại mà tốt hơn thì là chuyện thường.

Tôi được xem các chỉ tiêu kinh tế - kỹ thuật của từng giếng khoan đã đưa vào khai thác trên giàn MSP-3 này, và quả tình rất ngạc nhiên trong khi tốc độ khoan trung bình chỉ đạt 15m mỗi giờ, thì ở giếng khoan 69 tốc độ bình quân là 25m/giờ. Đã vậy, số lượng choòng khoan cũng tốn ít nhất: 12 chiếc, trong khi mức trung bình là 18 chiếc; số ngày khoan tốn ít nhất (20 ngày) và do đó tốc độ thương mại gần như gấp đôi so với các giếng khác. Nhờ việc khoan mở giếng nhanh chóng, việc bơm trám xi măng ngoài ống chống đúng yêu cầu kỹ thuật, nên giếng khoan số 69 được đưa vào khai thác ngay sau khi bắn mìn mở vỉa.

Khi gặp Tô-mi-ski – kỹ sư địa chất Cục khoan biển – người theo dõi giếng 69, tôi hỏi anh về triển vọng của giếng khoan này. Anh không trả lời ngay, mà chỉ tay sang Khôn-kin đội trưởng đội Karôta và bảo:

– Đây mới đích thực là chủ nhân của giếng khoan. Khôn-kin phấn khởi đỏ mặt, cười hồn hậu và đôi mắt nâu sáng lên phấn khởi. Anh giải thích:

Chúng tôi dùng máy thả xuống giếng khoan để đo các phương pháp Karôta như: điện, xạ, cơ học, nhiệt độ… theo yêu cầu của Cục khoan biển. Phương pháp này thay thế cho việc lấy mẫu lõi để nghiên cứu giếng khoan. Từ giàn khoan chúng tôi gửi các tài liệu đo được về trung tâm tính toán các thông số địa lý – vật lý của mặt cắt giếng khoan ở trên bờ. Tại đây, người ta vạch ra các vỉa có triển vọng chứa dầu – khí, tính độ rỗng, độ bão hòa dầu của chúng. Nhờ đó, chúng tôi bắn mìn và mở vỉa chính xác, nhanh chóng đưa giếng khoan vào khai thác.

Tô-mi-ski bổ sung: Việc đo địa-vật lý để nghiên cứu các giếng khoan chỉ chiếm khoảng 5-10% toàn bộ thời gian, vậy mà kết quả đem lại sẽ quyết định số phận của giếng khoan. Gần đây, việc lấy mẫu lõi ở các giếng khai thác không tiến hành, do đó, một mặt giảm được "thời gian chết" cho khoan, nhưng mặt khác đòi hỏi phải bám chặt hơn vào địa – vật lý, vì không còn thông tin gì hơn về giếng khoan ngoài địa – vật lý. Chính vì thế, địa – vật lý là tai mắt cho các nhà địa chất theo dõi giếng khoan…

Chỉ tính từ đầu năm 1988 đến nay, giàn khoan cố định MSP-3 đã đưa vào khai thác 7 giếng khoan, trong đó giếng khoan số 69 đạt kỷ lục nhanh nhất. Kể từ ngày bắt đầu khoan (19/11) đến ngày mở vỉa và đưa vào khai thác (19.12.1988) vừa tròn một tháng.

Chúng tôi gặp giàn phó phụ trách khai thác Nguyễn Phan Phúc. Anh có dáng người mập, thấp; và qua bạn bè, tôi được biết anh hát khá hay, đã từng đoạt huy chương vàng qua các lần hội diễn văn nghệ. Tính tình cởi mở của anh làm chúng tôi an tâm khi hỏi chuyện. Anh cho rằng việc khai thác vượt chỉ tiêu một triệu tấn dầu thô năm 1988 là hoàn toàn có cơ sở, vì khoan nhanh và địa-vật lý kết luận chính xác, mở vỉa kịp thời. Tuy vậy, tàu Krưm đã đầy, cần chờ vài ngày nữa bán bớt dầu thì mới có chỗ chứa…

Chúng tôi bay về đất liền, vừa lúc gặp anh Ngô Thường San – Phó Tổng Giám đốc Xí nghiệp Liên doanh "Vietsopetro" phụ trách các vấn đề kỹ thuật. Anh phấn khởi báo tin:

– Các cậu vừa bay khỏi giàn 3 thì dầu lên. Này, giếng khoan số 69 lưu lượng khá lắm nhé, hơn 300 tấn mỗi ngày…

Thật vô cùng phấn khởi khi thấy lao động của mình đã mang lại những kết quả nhất định. Giàn 3 ư? Những gương mặt thân quen nào Biên, Bộ, Hòa… rồi Tô-mi-ski, Khôn-kin, đến Phúc, Lan… Tất cả đang lao động quên mình "Vì sự nghiệp Dầu khí Việt Nam".

Và còn biết bao gương mặt bạn bè ở khắp nơi trên các giàn khai thác đã góp phần mình để làm nên sự kiện trọng đại MỘT TRIỆU TẤN DẦU. Tại văn phòng Công đoàn Liên doanh "Vietsopetro", chúng tôi gặp anh Nguyễn Văn Tam – Chủ tịch Công đoàn phía Việt Nam. Anh thông báo có nhiều đơn vị đã gửi báo cáo hoàn thành kế hoạch trước thời hạn, trong đó đáng chú ý nhất là Xí nghiệp Địa-Vật lý giếng khoan và Cục khoan biển. Cục khoan biển và Xí nghiệp Địa-Vật lý chẳng khác nào hai anh em cần mẫn làm ăn và tạo tiền đề cho nhau cùng hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, góp phần xây dựng Tổ quốc.

Hôm ấy, toàn Xí nghiệp Liên doanh Dầu-khí tổ chức ngày lao động cộng sản chủ nghĩa để lấy thành tích chào mừng kết quả khai thác một triệu tấn dầu thô đầu tiên. Chúng tôi được phân công làm vệ sinh công nghiệp trong khu vực căn cứ Xí nghiệp Địa-vật lý. Kia là tốp thợ máy tời và các anh Hưng, Dương, Rẫn đang quấn lại và bảo dưỡng cuộn cáp 6000m. Bên này là số chị em họa đồ đang phạt cây, quét dọn. Tiếng nói cười râm ran phấn khởi. Anh Nguyễn Văn Tuyến – Quyền Giám đốc Xí nghiệp Địa-vật lý có dáng cao, to, lưng hơi gù đang sải những bước chân dài, đích thân chỉ huy mọi công việc. Trưởng phòng kiểm tra và phân tích tài liệu giếng khoan – Nô-xen-kôv tóc cắt cua, đầu trần bóng nhẫy mồ hôi trong nắng chiều, đang tỉ mẩn làm sạch cỏ từng gốc cây dừa vừa mới bén rễ xanh cây. Số chị em họa đồ lâu ngày không ra nắng, mặt hồng hào lên và được một bữa nói cười thoải mái. Không vui sao được! Kế hoạch cả năm 1988 đã được chúng tôi hoàn thành trong 11 tháng! Giờ đây, nhìn lại chặng đường dài đã đi qua, chúng tôi có quyền tự hào về những thành tích đã đạt được, mà cụ thể là những cái mốc ít nhất cũng có "ý nghĩa lịch sử" đối với mỗi chúng tôi:

  • Ngày 19/11/1981 – thành lập Liên doanh "Vietsopetro".
  • Ngày 26/5/1984 – lần đầu tiên đốt thử dầu ở mỏ Bạch Hổ.
  • Ngày 31/5/1985 – đưa trạm địa-vật lý đầu tiên ra biển để nghiên cứu lòng đất.
  • Ngày 26/6/1986 – bắt đầu khai thác dầu mỏ ở Việt Nam.
  • Ngày 21/4/1987 – lần đầu tiên Việt Nam bán dầu mỏ ra thị trường thế giới.
  • Ngày 28/12/1988 – hoàn thành việc khai thác một triệu tấn dầu thô Việt Nam.

Năm cũ sắp qua, năm mới đang tới gần. Những người làm dầu-khí trong Liên doanh Dầu-khí Vietsopetro đã sống và làm việc hết mình với khẩu hiệu "Tất cả vì sự nghiệp Dầu-khí Việt Nam". Bởi vậy, chúng tôi đã chuẩn bị xong món quà của mình trước mùa xuân 1989 – MỘT TRIỆU TẤN DẦU CHO TỔ QUỐC. Hòa với những thắng lợi to lớn trên các công trình thủy điện Trị An, Hòa Bình… chúng tôi xin góp vài bước chân trên chiếc cầu nối hai bờ CŨ – MỚI của Đất nước.

Văn Bản
12/1988, MSP-3, Vũng Tàu