Khi nhận phiếu đặt viết bài cho báo xuân Quí Dậu của Công đoàn LDDK tôi rất băn khoăn, vì mấy năm vừa rồi phải lao theo các vấn đề kỹ thuật và kế hoạch sản xuất, nên có sao nhãng cái sự văn chương.
Tuy vậy, tôi đã từng nhiều lần có mặt trên các giàn khoan biển vào đêm giao thừa, nên vẫn có được cái cảm giác của những người thợ dầu-khí vào lúc giao mùa. Đúng là rất nhớ đất liền, nhớ nhà, nhớ vợ con, người thân và bạn bè… Và biết đâu có người lại đã thêm một lần lỡ hẹn. Nhưng hãy nhìn xem: ngọn lửa từ các pha-ken đang rừng rực cháy và thôi thúc! Vùng mỏ Bạch Hổ của chúng ta đang háo hức vào xuân bằng hàng chục ngọn lửa diệu kỳ, sáng chói qua đêm dài tăm tối.
1 – TIN VUI
Ngày 16/11/1992 Đài phát thanh và truyền hình tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu đưa tin: "Xí nghiệp LDDK Việt-Xô đã hoàn thành kế hoạch khai thác 4 triệu 900 ngàn tấn dầu thô, vượt kế hoạch 1 tháng 14 ngày. Thời gian còn lại sẽ khai thác thêm 600 ngàn tấn dầu vượt mức kế hoạch". Đáng lẽ tin vui này được cán bộ CNV trong LDDK hồ hởi đón mừng, những xem ra chẳng ai có phần vui quá lên một chút, và lại càng không thể bì được với cái lần đầu tiên, khi ta khai thác được 1 triệu tấn dầu cách đây dăm năm. Nguyên nhân thì nhiều, nhưng có lẽ trước hết là do mọi người hụt hẫng do không được thưởng. Vào các ngày lễ, tết trong năm 1992, cán bộ CNV trong XNLD chưa được thưởng lần nào, đến lượt hoàn thành vượt mức kế hoạch cả năm cũng chẳng hơn gì, nên không khí lao động nơi Tiền cảng hoặc trên các giàn khoan biển thiếu phần sôi nổi. Nhiệm vụ trên giao thì phải hoàn thành, nhưng đã vượt kế hoạch thì phải có thưởng, dù ít mà có vẫn còn hơn… Tóm lại, "các ông ấy cố tình ỉm đi vụ thưởng", "các ông lớn chỉ biết động viên người ta làm…"
Cánh kỹ thuật thì băn khoăn vì chưa tìm ra được chế độ khai thác tối ưu để "lấy" dầu lên từ tầng đá móng nứt nẻ đang bị tụt áp suất một cách nhanh chóng, mà dầu ở móng lại chiếm hơn 90% sản lượng của mỏ. Hiện tại, ta mở van khai thác dầu một cách tùy tiện, có khi ào ạt chạy theo kế hoạch, khiến cánh kỹ sư là người trong cuộc vô cùng áy náy, vì sợ chóng hỏng mỏ dầu. Hơn nữa, việc bơm nước vào móng chỉ được tiến hành ở mức cầm chừng, do chưa tìm ra được quy luật phân bố các khe nứt và cũng chưa tìm ra ranh giới dầu-nước trong móng. Một chuyên gia khai thác dầu quốc tế có lần nói với chúng tôi: "nếu các ngài cứ bơm nước vào móng thì sẽ nguy hiểm, do nước đẩy dầu vào sâu theo hướng các ngài chưa biết, kéo theo là giảm lượng dầu khai thác. Còn nếu thả ống chống, trám xi măng rồi bắn mìn dọc theo phần móng để tìm ranh giới dầu – nước, nhằm xác định vị trí bơm ép nước, thì phải có bom nguyên tử may ra mới giải quyết xong, vì xi măng đã bít hết phần khe nứt…"
2 – TIỀN CẢNG
Có nhiều bài báo viết về Tiền cảng, hay gọi chính xác hơn là cảng dầu-khí thuộc LDDK Việt-Xô. Minh họa cho các bài viết này là ảnh chụp các vị lãnh đạo này nọ thăm cảng, cùng một đoàn tháp tùng hớn hở nói cười… bên cạnh những bloc môdul khổng lồ, hay cạnh những con tàu dịch vụ cỡ lớn…
Nhưng ít ai biết được phần quan trọng của cảng là các căn cứ kho dịch vụ với những đống vật tư còn tồn đọng lâu ngày mà chưa ai đụng đến. Cạnh cầu cảng nằm chình ình "con rùa sắt" do sáng kiến chi hơn cả tỷ đồng mua về làm sắt vụn, mà thỉnh thoảng bị đám công nhân bồi thêm cho dăm ba cục gạch đá. Sau khi lấm lem vì đổ bồn xi măng hoặc ba rít, ngoáy hai lỗ mũi thấy xi măng đã đọng thành từng cục, cánh công nhân mệt lử, nhưng vẫn không quên chửi tục "thằng cha nào mua rùa sắt về làm vướng chân ông…" Các công nhân bốc xếp thường cởi trần, mặc quần cộc làm việc, sau đó tắm ào một cái là xong. Anh nào khỏe còn trụ được thì làm, ốm đau thì tự đào thải. Đám thủ kho tuy cẩn thận hơn, thường đeo khẩu trang tránh bụi, nhưng cũng chả hơn gì, vì có tới hơn 90% bị viêm họng, viêm mũi…
Kỹ sư Đức Hiển làm công việc điều độ ở cảng đã mấy năm không nghỉ phép. Anh chỉ đám "khói xi măng" mù mịt, màu vàng da cam dưới ánh đèn cao áp cạnh bồn xi măng, mà xót xa cho anh em công nhân bốc xếp. Trần Trọng Kim là đội trưởng bốc xếp đang chỉ huy việc đổ xi măng vào bồn. To con, nhanh nhẹn, có một thời nổi danh làm khỏe như trâu, thế mà đã có lần Trọng Kim bị ốm suýt chết.
Đức Hiển bảo tôi: "công việc chính ở cảng dịch vụ là giao-nhận hàng hóa. Công nhân và thủ kho rất vất vả. Vậy mà vô lý lương của họ lại kém hơn mấy ông bà làm kho ở các xí nghiệp lẻ. Nếu ở đây là đại lý, mỗi ngày giao nhận cả trăm tấn hàng, thì nơi họ chỉ là cửa hàng lẻ, có khi cả tuần chả có người mua. Vậy mà lương của thủ kho lẻ lại gấp đôi, tại sao? Mấy ông công đoàn có thấy vấn đề không?"
Người thường được nhắc đến ở Tiền cảng là cảng phó Vân Anh. Nhanh nhẹn, hoạt bát và thông thạo tiếng Nga, Vân Anh đã giải quyết dứt điểm được nhiều việc đưa hàng ra biển nhanh chóng phục vụ sản xuất, hoặc nhập hàng vào kho bảo quản.
Rời xí nghiệp dịch vụ, chúng tôi quay sang nhà tháp tròn cũng ở ngay cạnh Tiền cảng, đó là căn cứ xí nghiệp địa-vật lý giếng khoan. Giám đốc xí nghiệp, anh Nguyễn Văn Tuyến là người chắc chắn và cương quyết, đã thành công trong việc điều hành các hoạt động sản xuất để trả lời cho câu hỏi có hoặc không có dầu ở các giếng khoan. Ở đây không tồn tại chuyện lấp lửng, hoặc vòng vo tam quốc. Mọi chuyện đều phải quy ra đúng hoặc sai, bởi vậy, con người nơi đây sống rất thẳng thắn.
Tuy là xí nghiệp nhỏ, nhưng mật độ kỹ sư ở xí nghiệp địa-vật lý rất cao, chiếm tới 70% tổng số cán bộ CNV (110 ks/156 người). Hàng ngày, các kỹ sư từ các giàn khoan khác nhau gọi điện về xí nghiệp báo cáo tình hình đo tài liệu ở các giếng khoan. Các tài liệu "gốc" được gửi về xí nghiệp để xử lý. Mỗi đường cong đều đem lại những thông tin quý giá về mặt cắt đã khoan qua, vì vậy, khi xử lý tổng hợp sẽ đưa ra được bức tranh toàn cảnh khá sinh động về các tầng sản phẩm nằm sâu 4,5 ngàn mét.
Tôi bước vào phòng giám đốc, thấy trên bàn la liệt các băng màu ghi lại kết quả xử lý các đường cong phổ gama và kết quả xử lý tổng hợp số liệu giếng khoan. Anh Tuyến đang trao đổi với chuyên viên của Vụ kỹ thuật – Tổng công ty, đó là tiến sĩ Vũ Ngọc An, người mà trước đây đã làm chánh địa chất của XN này. Các phần móng nứt nẻ được đánh dấu khá cẩn thận kèm theo kết quả khai thác dầu. Những khoảng dự định bắn mìn bổ sung được tô đậm nét để tăng thêm lưu lượng. Ở phòng bên, chánh địa chất Phạm Thế Cầu đang đúc kết số liệu trên MTĐT. Anh bảo tôi: "phần nhận biết thạch học bằng tài liệu Karôta đã tạm ổn, bây giờ phải quay sang tính độ thấm. Cậu cho rời rạc hóa số liệu giếng khoan 804 nhanh lên nhé!"
Tôi kiểm tra lần cuối băng số liệu để đưa vào máy rời rạc hóa – một công việc đòi hỏi phải hết sức cẩn thận, vì sai một ly sẽ đi một dặm, có khi vào số không đúng, các đường cong sẽ triệt tiêu nhau khi đưa vào xử lý, dẫn tới kết quả sai.
Có lần nhìn các kỹ sư còng lưng để số hóa các đường cong, tiến sỹ toán – máy tính Ngô Văn Lược thuộc phòng máy tính LDDK, đã bảo chúng tôi: "Thật là vô lý khi các công việc dạng này đã số hóa từ lâu, mà ở ta vẫn còn lạc hậu thế này. Thế mà các vị lãnh đạo lúc nào cũng kêu gào đây là khâu sản xuất quan trọng nhất của LDDK trong các bước: khoan – địa vật lý – khai thác…"
Thấy anh Lược nhiệt tình ủng hộ việc đổi mới công nghệ, tôi liền bộc bạch tất cả những suy nghĩ từ bao năm dồn nén lại: "đây là hậu quả tất yếu do ta nhập máy Liên Xô (cũ) mà quy trình của họ chỉ cho phép đo ghi đường cong ở dạng tương tự. Nào có vui vẻ gì đâu khi phải làm cái việc rời rạc số như thế này, nhưng nếu không làm, thì sao có được số liệu để xử lý? Mua máy của các nước thứ ba thì chưa được, do bị cấm vận. Vả lại, cần phải tận dụng các máy cũ hiện có mà chạy theo kế hoạch sản xuất. Trong các điều kiện như thế, nhưng việc so sánh tài liệu đo và kết quả xử lý mà xí nghiệp chúng tôi tiến hành song song với công ty hàng đầu thế giới về địa-vật lý giếng khoan Schlumberger trong 10 giếng đo kiểm chứng trong 10 giếng ở mỏ Bạch Hổ, đã chỉ ra rằng: tài liệu họ in ra đẹp hơn, còn kết quả xử lý của chúng tôi chính xác hơn, mà giá thành lại rẻ gấp mấy chục lần. Chúng ta muốn học tập cũng không có điều kiện, vì công ty này độc quyền về máy và chương trình xử lý. Vừa qua, tổng giám đốc Ngô Thường San đã cho ký hợp đồng về công nghệ số hóa việc đo địa-vật lý giếng khoan với công ty phát triển công nghệ thông tin – AIC, Hà Nội, đó là một hướng đúng đắn. Hy vọng rồi sẽ đỡ vất vả hơn".
3 – TRÊN GIÀN KHOAN BIỂN
Hồi tháng trước, chúng tôi bắn mìn ở giếng khoan 905. Gặp lại giàn trưởng Hà Ngọc Khuê rất vui, không phải vì chỗ đồng hương mà là vì anh thường được nhắc đến như một lãnh tụ thực sự của công nhân. Anh lao động gương mẫu, luôn luôn có mặt và giải quyết công việc một cách dứt khoát. Anh chăm sóc sức khỏe công nhân và nhắc nhở từng ly, từng tý. Có lần tôi nghe anh kêu trong gió gọi đám công nhân: "Cẩn thận kẻo bay mất mũ!"
Giếng khoan chúng tôi liên kết bắn mìn là giếng sâu nhất của vùng mỏ, bởi vậy chánh địa chất xí nghiệp khoan Trần Văn Hồi rất quan tâm. Vừa làm lễ giao khoán kế hoạch cho công nhân giàn 8 trên biển xong, nghĩa là vượt mức sẽ có thưởng hẳn hoi, anh Hồi bay sang giàn 9. Chúng tôi bàn bạc và giải quyết công việc ngay trong phòng của giàn trưởng Khuê, sau đó cùng đi ăn trưa. Anh Hồi khen: "Giàn 9 tự hào có giếng khoan sâu nhất, bếp giàn 9 đàng hoàng nhất trong các giàn trên biển: sạch sẽ, đủ cốc bát và thức ăn ngon". Tôi tán đồng, còn anh Khuê thì bảo "Phải giữ lắm đấy ông ơi, công nhân nhiều khi chỉ tự giác khuân đi mà không chịu mang trả về bếp…"
Anh Khuê cho rằng nếu cứ để giàn khoan cho một phía quản lý thì tốt hơn tình hình chung cho cả xí nghiệp khoan lẫn xí nghiệp khai thác quản lý. Tôi góp ý: "Nếu giàn mới thì việc chính là khoan. Mỗi giàn có thiết kế 16 giếng. Phải khoan được gần hết số giếng dự định, thì mới bàn giao cho khai thác là hợp lý". Anh Hồi bảo đã đề nghị việc này, mà ban Tổng giám đốc chưa giải quyết.
Phải công nhận rằng: tuy có bị kẹt cố, nhưng xí nghiệp khoan vẫn là đơn vị đầu đàn trong sản xuất ở LDDK. Ai bảo khoan không bao giờ kẹt là chuyện phi lý. Ngay cả khi khoan vài trăm mét tìm quặng ở Vĩnh phú hồi nào (liên đoàn địa chất X) mà cũng kẹt lên, kẹt xuống, đến nỗi phải tìm chuyên gia cứu kẹt từ Hà Nội lên đó thôi. Còn chúng ta, trong điều kiện ở biển thiếu thốn vật tư và hóa chất, các giếng lại sâu và nhiệt độ cao… mà kết quả khoan thắng lợi ở hơn 100 giếng dầu mỏ Bạch Hổ là điều rất đáng tự hào cho những người làm công tác khoan sâu. Cánh thợ khoan vẫn bảo nhau: "Muốn khoan được thì phải cứng và dung dịch khoan phải đảm bảo".
Chúng tôi có mặt ở giàn khoan 8 vào một ngày sóng to gió lớn. Choòng khoan đang tiến dần đến đích gần 5.000m. Hơn 1.000m phần đáy giếng khoan, góc nghiêng gần 30 độ. Tôi nhìn biểu đồ xử lý số liệu độ lệch và nghi ngại cho số máy móc địa-vật lý thả xuống để ghi bức tranh thành giếng khoan. Không đo thì sẽ không có tài liệu để đánh giá giếng khoan và đó sẽ là giếng khoan chết. Thánh cũng chịu bó tay vì không thể nhìn thấy gì ở chiều sâu gần 5 ngàn mét, huống chi các nhà địa chất vốn quen tay sờ mẫu lõi để phán quyết các vấn đề. May sao đợt đo của chúng tôi trot lọt. Các chỉ tiêu đều chỉ rõ giếng gặp nhiều tầng khe nứt chứa dầu.
Như vậy là vào những ngày cuối năm, chúng tôi góp phần xác định dòng dầu mới đưa vào khai thác, nâng tổng số lượng dầu khai thác được lên hơn 16 triệu tấn từ khi mở mỏ. Kế hoạch khai thác sẽ vượt mức. Hà Nội – Sài Gòn và cả nước náo nức tin vui vào những ngày xuân tết. Hỡi những người thợ ở mỏ dầu! Xin hãy nhận những lời chúc tết tốt đẹp nhất, dù rằng mình chúc cho nhau.
Vũng Tàu, 12/1992
Văn Bản