" Phạm Tú tế vong hồn dân Trường Mỏ

Giang Thịnh mưu đồ chiếm Hải Dương"

Lại nói người đó là Cao Thất Toại, tên thực là Tôn Thất Toại, vốn dòng dõi cháu 14 đời của quan đại thần Tôn Thất Thuyết. Thuở nhỏ, Toại theo học một ông thầy họ Cao được thầy quý mến coi như con đẻ nên cho phép đổi theo họ của thầy. Từ đó Toại mới có họ là Cao Thất. Toại vốn xấu trai, hình dung cổ quái, nhưng đọc rộng biết nhiều, thạo nghề phù thủy, xem tướng cho người không sai lấy một li, lại có tài ứng đối, nên được Cư rất tin dùng. Bữa ấy Toại bẩm với Cư rằng: "Thần xem kinh thi của Khổng Tử thấy nói ở phía Bắc An nam không đầy vạn dặm có một vương quốc toàn người mũi lõ mắt xanh, lắm của nhiều tiền, lại giỏi nghề tìm dầu khí. Nếu mời được họ sang giúp sức thì lo gì việc lớn không thành." Cư khen phải, bèn thân hành dẫn đầu đoàn xứ bộ vượt bao núi rộng sông dài, tìm đường sang xứ tuyết mời được mấy chục đạo sĩ về hỏi han kế sách. Giống người này mình cao tám thước, da trắng như ngà, mũi lõ mắt xanh, nói tiếng xì xồ, dân An Nam ít người hiểu được. Họ bày cho Ngọc Cư cách dùng các ống sắt nối lại cắm xuống đất để hút dầu lên. Lại dạy Cư cách dùng bóng đèn treo ngược thắp sáng cả một vùng. Nguyễn Ðiền và Ðắc Hoài thấy vậy cũng vội mời các đạo sĩ về giúp sức.

Vào năm Kiến An thứ 18, Ðiền lên ngôi vua, lấy hiệu là giám đốc. Ðể an lòng dân, mỗi tháng Ðiền cho một chuyến xe chở tướng sĩ thăm quê hương, xứ sở. Ðiền lại trích công quỹ ban thưởng cho ba quân. Vì thế mọi người vui vẻ làm ăn. Suốt mấy năm liền, cả một vùng Xuân Thủy - Hà Nam sóng yên bể lặng.

Bấy giờ ở đất An nam có một nhóm sĩ phu khăn gói lên tận đất Mỏ Chè ở vùng rừng núi Thái nguyên theo thầy học đạo. Sau 5 năm sôi kinh nấu sử họ đã học được các phép lạ về địa vật lý, thiên văn, giỏi nghề đo đạc. Nghe nói ở Xuân Thủy có Nguyễn Ðiền là đấng anh hào dùng người hiền chiêu kẻ sĩ, họ bèn rủ nhau xin gia nhập doanh trại của Ðiền, những mong được thi thố sức mình như thời vua Nghiêu, vua Thuấn xưa kia. Nhưng chẳng được bao lâu thì trong triều sinh biến. Các tướng không lo việc nước, chỉ mưu đục khoét của dân. Ðời sống mọi người vô cùng cơ cực. Tiếng kêu oan khốc khắp nơi, nhưng không thấu tới triều đình. Trộm cắp xuất hiện như rươi. Kẻ ở người đi, nhân tâm ly tán, mọi người chỉ chờ có cơ hội tốt để trốn khỏi doanh trại của Ðiền. Tướng tài như Nguyễn Lộc thì bỏ Ðiền, về ẩn với vợ con ở vùng Nhã Nam - Hà Bắc. Hổ tướng Phạm Dương có gan chống lại triều đình, cũng suýt bị đưa ra trị tội, phải vội vã trốn về với Ðắc Hoài ở mạn Hưng Yên. Các tướng như Trần Ðóa, Nguyễn Xâng cũng treo ấn từ quan để xin về Tân Cầu tăng gia nuôi lợn.

Nghe theo lời quân xiểm nịnh, Ðiền lại bạc đãi cả với nhóm sĩ phu mới ở Thái Nguyên về. Mọi người chỉ còn biết ngửa mặt lên trời cùng nhau than thở, tiếc cho những năm kinh sử sách đèn. Trong số các sĩ phu ấy có Phạm Tú là người sinh hạ ở Vĩnh Bảo - Hải Phòng. Ðất ấy nổi tiếng từ thời Mã Viện khi xưa, vì có thuốc lào ngon làm đồ cung tiến, lại là nơi văn vật, trẻ con mới lên ba đã thuộc sấm của Trạng Trình. Tú có tài học thuộc nhớ lâu, biết nhiều truyện từ thời "xuân - thu - chiến quốc", đi 7 bước làm xong 1 bài thơ, nên được bổ làm quan ngự sử trong triều. Cảm thương đồng đội, Tú đã ngửa mặt lên trời mà than rằng :

"Hỡi ôi! quyết định ký rồi, lòng người trời tỏ.

Gần 5 năm dày công bút mực, chưa biết tấm bằng xanh đỏ ra sao.

Bị bật sới xuống đây, tin buồn ấy tiếng nghe như sét đánh.

Nhớ khi xưa:

Ðêm thức tàn canh chăm lo đọc sách, lo lúc vào thi, chỉ mong thày gật.

Luộc sắn, luộc mì, lật giường, cậy giát, tay vốn quen làm

Giật tranh, giật mái, đốt quán cổng trường, mắt ta từng ngó.

Bữa thấy đàn anh ra công tác, nghĩ cũng hay hay Ngày nghe thấy nói thưởng nhiều, cũng muốn đi xuống thử Khá thương thay:

Vốn chẳng phải ham mê công việc, theo đòi để lấy tiếng thơm

Chẳng qua vì không chốn nương thân, bất đắc dĩ phải về đây cho qua

chuyện.

Nào ai đòi, ai bắt, gắng mà theo cho kịp bạn bè.

Chẳng cần tiếng Nhật, tiếng Tây, thân hèn kém mong chi thứ ấy.

Ngoài cật có một manh áo bạt, nào đội mang găng tốt ủng bền

Trong tay cầm một cuộn màn chăn, không cần chiếu, dẫu đêm nay

giá rét.

Thổi cơm: rút trộm tranh lá mía, mỗi bữa ăn phải mượn nồi xoong.

Ba tên trùm một chiếc chăn bông, cũng gắng sống hết mùa đông

năm nọ.

Không mặc không diện, có thứ gì bán sạch.

Rượu chè suốt sáng cho vợi bớt lo toan.

Nào sợ hàng năm có thưởng nọ thưởng kia,

Thứ 7 ta về, liều mình như chẳng có.

Kẻ xin đi, người chối ở, làm cho trưởng phó phòng lắm lúc đầu đau.

Bọn hò trước, lũ ó sau, lúc họp hàng quý bình bầu xét thưởng.

Những mưu việc lớn không thành, đâu biết sức tàn lực kiệt

Ôi thôi thôi! Nằm đây đợi đi Nga không đến lượt Tấm lòng son gửi lại bóng trăng rằm

Ngồi nghe Tây họ nói xì xầm, tủi phận bạc trôi theo dòng nước đổ.

Ðau đớn thay mỗi đợt bình xét thưởng, phận mình đây sao mãi cứ "C" hoài! Não nùng thay vợ yếu, đợi chồng về,

không có lấy một đồng chinh cắc bạc.

Nghĩ khi xưa, lúc còn đi học: ngày ngày ăn sắn luộc mà vui.

Nhìn bạn bè đói khổ xót xa, lòng lại thấy mơ về trường Mỏ.

Kĩ sư làm chi 300 đồng bạc, lo tiền ăn, lo áo mặc, nghĩ lại thêm buồn.

Kĩ sư làm chi, chỉ thấy thiếu tiền, chia rượu lạt, gặm bánh mì nghe càng

thêm khổ.

Thà trước mà đừng ham đọc sách đi về chạy chợ cũng vinh,

hơn là học tiếng Nhật, tiếng Tây ở mãi chốn nơi đây đến khổ.

Ðất Xuân Thủy xa xôi mờ mịt, thân nằm đây nhưng dạ nhớ đô thành.

Thương vì hậu thế mai sau, nên cố gửi mấy lời di chúc lại "

Vì bài văn tế ấy, người đời sau có thơ khen Phạm Tú rằng:

" Phạm Tú sinh trên đất thuốc lào Tuổi trẻ nhưng mà có chí cao Văn tế tỏ lòng thương đồng đội Ngàn năm nhớ mãi bậc anh hào."

Trong triều bấy giờ có Giang Thịnh là kẻ đa mưu bấy lâu vẫn được Ðiền dùng làm mưu sĩ. Thấy vận nước ngả nghiêng, Thịnh bèn làm sớ tâu với Ðiền rằng:" Ðại vương đóng quân ở đất Xuân Thủy này, tuy lắm cá nhiều tôm, mênh mông sóng nước, lau sậy um tùm, địa thế vô cùng hiểm yếu. Nhưng đất này là nơi quần ngư tranh thực, lại bất lợi về mặt giao thông. Nếu nay mai quân của Liên doanh theo đường biển từ phía Nam kéo ra chiếm lấy vùng Ba Lạt; quân của Ngọc Cư từ Thái Bình theo đường đò Mộ đạo tiến sang; còn quân của Ðắc Hoài vượt qua phà Triều Dương mà chiếm lấy cầu treo Nam Ðịnh, bịt con đường độc đạo xuống đây, lúc đó e rằng đại vương giở tay không kịp, nghiệp lớn của đại vương chỉ chốc lát mà tan. Chi bằng ta hãy kéo quân ra chiếm lấy khách sạn Hải Dương tiện bến tàu xe, đất rộng người đông tha hồ mở mang bờ cõi. Lại có thể liên kết với tướng Ðỗ Hậu ở Hải phòng tạo thành thế chân vạc, đầu đuôi có thể ứng cứu được nhau, thì dẫu Ðắc Hoài có hợp tác với Ngọc Cư, đã dễ gì phá được. Việc gấp lắm rồi! Xin đại vương hãy mau mau quyết định. Ðiền nghe Thịnh tâu xong, chỉ ngửa mặt lên trời cười

ngất, rồi vẫy tay truyền cho Thịnh lui ra. Chưa biết ý Ðiền ra sao xem hồi sau mới hiểu.