" Công danh muốn lập chưa thành Gặp cơn binh lửa cũng đành phôi phai"

L ại nói: vào cuối đời nhà Nguyễn, khắp nơi có nhiều biến động. Các tướng già đã mỏi mệt việc quân mà việc lớn không thành, nên có kẻ thì giũ bỏ bụi trần lui về chốn thảo am tĩnh dưỡng, có kẻ thì thân bại danh liệt vì sự làm phản của tướng lĩnh dưới quyền.

Tài ba lỗi lạc như Trí Liễn mà cũng không tránh khỏi bị gièm pha, khiến một thời phải khoanh tay, rũ áo. Mãi khi Nguyễn Hòa già yếu, Sĩ Thoảng lên thay, khiến cho kỷ cương mới dần dần được lập lại.

Trong cơn thiên hạ ba đào, đám quân sĩ tốt của Trương Thiên ở Thái Bình hầu như tan vỡ cả. Khắp nơi tang tóc thê lương. Những chòi sắt chọc trời dùng để hút lâý vàng đen khi xưa, giờ thành bình địa. Ðại bản doanh ở vùng chợ Ðậu bây giờ cũng cỏ mọc rêu phong. Còn đâu cảnh cờ xí rợp trời, gươm giáo sáng lòa, ngựa xe tấp nập. Các tướng sĩ quẳng giáp, treo gươm để lo chạy chợ kiếm tiền. Ðại tướng Trần Hồi cùng đám bộ hạ cũng bỏ đất Thái Bình mà theo về với Liên Doanh. Thật đúng là:

" Vang bóng nơi đây đã một thời, Tướng tài, sĩ tốt bỏ đi rồi, Thành quách rêu phong, nhà đổ nát Du khách còn luyến tiếc mà thôi "

Cánh quân của Ðăng Liệu ở Hải Phòng mới thật là trong cơn bĩ cực. Hải Phòng nơi đây vốn là chốn phồn hoa, có kẻ tiêu cả đấu bạc một ngày. Riêng đám sĩ tốt của Liệu có khi vài tháng không được cấp lương, vì thế mà càng thêm khốn khổ. Giặc giã nổi dậy, trộm cắp như rươi, mới 8 giờ tối mà dân chúng không giám ra khỏi cửa. Trong đám tướng lĩnh, kẻ thì xin đi xuất ngoại, nguyện làm tôi tớ cho kẻ ngoại bang để kiếm tiền nuôi vợ; kẻ thì tối tối lại lỉnh đi làm phu khuân vác ở nơi bến tàu xe. Muôn dân thật là lầm than cơ cực, chỉ có bọn kỵ binh điều khiển ngựa sắt là có phần khấm khá. Bấy giờ đồi núi hoang vu, đường sá gập gềnh. Muốn đi từ Hải Phòng về Xuân Thủy hoặc Hưng Yên, dân tình cũng phải xếp hàng từ hai ba giờ sáng. Những khi chỉ một mình một ngựa, bọn kỵ binh thường cho hành khách đi nhờ, rồi đến giữa đường giở thói bắt chẹt tiền mãi lộ. Mặc dù trong đầu chỉ có dăm ba hột chữ, không bõ cho trẻ con cắn trắt, nhưng nhờ có mấy đồng tiền, nên chúng hay giở thói coi thường các chiến binh giỏi nghề kỹ thuật. Chúng thường chế diễu ra mồm:

" Kỹ thuật phen này sống sướng ghê Củi đay nhặt ở bãi song về Cá mè ranh kho cùng muối ớt

ba hào rượi nhạt, uống thỏa thuê "

Ðám tướng lĩnh kỹ thuật biết vậy, nhưng bản chất là kẻ trượng phu, nên họ không thèm chấp, mặc dù có kẻ đã bị mẹ vợ rầy la: " ối giời ơi ! hắn đánh lừa tôi. Cứ tưởng hắn là phó lái, ai ngờ lại là phó tiến sĩ..."

Ðăng Liệu thấy vậy cả kinh, bèn giảng hòa với các nơi, thành cao hào sâu, án binh bất động, để lo cứu đói dân lành. Liệu sai tướng Phiến rà soát lại danh sách ba quân. Phàm những kẻ tóc đã muối tiêu, hoặc đám phụ nữ chân chì đều bị đuổi ra ngoài quân ngũ. Ðám tướng sĩ già khi xưa có chút công lao thì được cấp cho vài trăm quan, rồi bắt phải về quê quán. Riêng đám chân chì còn lại thì được tướng Ðỗ Vinh gom về chợ Gạo - Hưng Yên, trú nhờ vào khu nhà Thành mà Ðắc Hoài nhượng lại. Ðám dân đinh này được phiên thành từng cơ 5 người, cứ 2 cơ thành đội. Vinh gom cả hơn 10 đội vào một nhà to, rồi bắt học nghề đan quấn dây thừng, mà người đời sau quen gọi là bện " quại ".

Lại nói: đám phụ nữ này bấy lâu quen sống bằng bổng lộc của chồng, nay phải làm kể có đến mười mấy tiếng một ngày, công việc lại chưa quen, nên thảy đều ca thán. Hết thảy đều hình dong tiều tụy, đầu tóc bơ phờ, chân tay nổi chai dày cộm như bàn tay kẻ thất phu. Thế mà hình phạt của Vinh thì quá lắm. Phàm những kẻ nào dám trốn ra thăm chồng ở Hải Phòng - Chùa Vẽ, hoặc lỉnh ra chợ xàng xê để kiếm thêm cho lũ trẻ đồng quà tấm bánh, đều bị Vinh trị tội thật nặng, hoặc thải hồi về quê. Vì thế, nghe tiếng Vinh thì trẻ con trong vùng không dám khóc to, còn đám phụ nữ chân chì cũng sợ Vinh như hùm sói.

Ðám tướng sĩ có tài thì có phần dễ thở, vì được Liệu cấp cho ngựa sắt và mấy trăm quan tiền về vùng Hà Nam chở cá muối ra Hải Phòng bán lại kiếm lời. Ðức Thụ cũng dẫn đầu một toán quân cùng với Phạm Tú và Sách Trọng về đất Thái Bình lặn ngụp trong các ao đầm vớt lấy thứ rau mà dân đen quen gọi là " rau câu " để đem ra Hải Phòng rao bán.

Ðời sống vốn đã khó khăn, nhưng pháp luật của triều đình vẫn hà khắc lắm. Ðám quân của Trần Thụ vì thương nhớ vợ con còn đang phiêu dạt tận miền Xuân Thủy, Hưng Yên, nên thường hay trốn doanh trại về thăm, giúp nhổ gốc đay làm củi, hay cuộn thuốc lá kiếm tiền. Thụ nghe nói vậy, giận lắm mắng rằng:

" Ông biết chúng mày nhớ vợ con,

Lừa Ông đi họp, chúng mày bon.

Chuyến này Ông cắt công vài đứa, Cả lũ chúng bay cứ liệu hồn "

Dân tình cả sợ nên ngay cả khi Thụ đi chinh chiến nơi xa, cũng không kẻ nào dám rời bỏ doanh trại nữa. Bấy giờ trong đám tướng lĩnh của Thụ có Ðức Uy giỏi nghề buôn lậu. Cứ vào chiều thứ 7, Uy lại rủ đám chiến hữu trốn vè mạn Trâu Quỳ buôn táo. Nhờ vậy mà đời sống có phần cải thiện. Có kẻ đã hứng chí mài gươm, sửa giáp, có kẻ đã toan tẩy xóa địa đồ. Chẳng bao lâu sau, chuyện bị tố giác với Thụ. Thụ rất giận, nhưng chẳng

biết làm cách nào để quản được quân, đã thế ba con gái của Thụ lại cứ lướt thướt vào ra, khiến lòng Thụ càng thêm ngao ngán, tối ngày mượn rượu làm khuây mà chưa nghĩ ra được kế gì. Chợt có kẻ nửa đêm lẻn vào trong dinh hiến kế. Nghe nói, Thụ mừng lắm bèn lệnh cho đám tướng lĩnh giỏi nghề thu nổ, can vẽ địa đồ phải tập trung điẻm danh vào 4 giờ chiều thứ 7 hàng tuần. Từ đó dân chúng điêu linh, vợ Sở - chồng Tần muôn trùng cách biệt, không có cách gì để gặp được nhau. Có kẻ phẫn uất chửi đổng mấy câu, hoặc liều lĩnh bỏ về, liền bị cách mất chức quan, đuổi xuống làm dân thứ. Kế sâu của Thụ rõ thực là:

" Ông biết chúng mày muốn về quê Chạy chợ chúng mày cũng rất mê Chuyến này Ông họp chiều thứ bảy Cho lũ chúng bay mất lối về "

Không biết kế ấy của Thụ có được lâu dài hay không, xem hồi sau sẽ rõ.