" Khí đất phun mịt mù Tiền Hải Nơi thôn dã thành bãi chiến trường"

L ại nói sau khi các tướng của Hoài đi trinh thám trở về báo tin có dấu hiệu của vàng đen tại đầm Thị Nại, miệt Qui Nhơn, Hoài cả mừng bèn lệnh cho chúng phải tuyệt đối giữ kín tin này, rồi gấp rút cho tổ chức một cánh quân binh hùng tướng giỏi chờ ngày đánh chiếm Qui Nhơn.

Dưới trướng của Hoài có kẻ thất phu khi xưa tham ô công quĩ bị Hoài lôi ra đánh cho trăm trượng nên lòng vẫn còn mang hận. Y bèn đem tin lẻn đến Hải phòng mà dâng lên cho Liệu.

Liệu nghe tin ấy cả kinh bèn cho một đội quân giỏi nghề đo vẽ cắm chốt dọc các điểm xung yếu ven bờ biển, suốt một dải từ cửa Ba Lạt đến tận Phan Rang. Tại các điểm xung yếu, Liệu đều sai quân đổ các cọc bê tông làm mốc, đo vẽ địa hình để chuẩn bị đánh chiếm biển Ðông và dọn đường Nam tiến. Bản thân Liệu cũng thường cưỡi ngựa sắt đi kinh lý trong dân để ngăn ngừa âm mưu tạo phản.

Một bữa Liệu đi qua một vùng dân cư đông đúc, đèn đuốc sáng trưng, nhưng xa xa phía cánh đồng lại thấy lập lòe ánh lửa như bọn ma trơi, Liệu lấy làm lạ lắm bèn gọi mấy tên lính già lại hỏi. Chúng mới tâu lên:

"Muôn tâu thánh thượng, thời Ngọc Cư trị vì, ở đây đã thành chiến địa. Ðất này có tên Tiền Hải, đất rông người đông. Có lần Cư cưỡi ngựa qua đây thấy khí đất ngùn ngụt bốc lên, Cư ngỡ là vùng này có khí đế vương đã toan mang quân trấn áp làm cỏ vùng này. May có tên sĩ tốt bẩm rằng khí này vốn có từ thuở cha ông. Nghe nói thế, Cư mới tạm yên lòng, nhưng cũng giảng hòa với Ðắc Hoài, rồi mời tướng Công Tào cùng đám thuộc hạ giỏi nghề địa hóa đến nơi làm rõ thực hư.

Sau khi biết rằng khí đất này có liên quan tới vàng đen, Cư cả mừng bèn lệnh cho sĩ tốt không kể đêm ngày mang hết chiến xa vận chuyển đất đá làm đường. Chỉ trong vòng có mấy tháng trời mà quang cảnh cả vùng đã thay đổi hẳn. Những con đường rộng hơn 10 trượng chạy thẳng ra giữa cánh đồng. Người ngựa chở khí cụ chạy rầm rập suốt đêm, lại dựng lên những chòi sắt cao tới 9 tầng trời để toan hút lấy vàng đen.

Dân chúng nơi đây từ xưa vốn chân lấm tay bùn, cả đời bám đít con trâu, nay thấy đường đá đi ngang qua cửa nhà mình thì thường nói cười vui vẻ :" Có dầu cũng khá, không có dầu cũng có đường đá mà đi ".

Lại nói Tiền Hải nơi đây vốn xa đại bản doanh, các tướng trấn thủ nơi đây chỉ mong cho nhanh hết phiên mình để về với vợ. Vì thế mà sĩ tốt buông lỏng kỷ cương, thường làm nhiều điều xằng bậy. Ðêm đêm vào phiên gác của mình chúng thường tìm cách ăn trộm xăng dầu đem vào làng đổi gà, đổi rượu. Những kẻ nhát gan thì dùng chai một lít, túi ni lông.

Kẻ bạo gan thì cả thùng phi cũng ít, nhưng loại can 10 lít được sĩ tốt rất ưa, mà chúng thường gọi là một xách. Bấy giờ phong trào "2 xách" rộ lên khắp cả một vùng.

Nghĩa là chập tối, đầu phiên gác thì mang gà cùng một xách rượu từ làng ra để cùng nhau nhậu nhoẹt, nửa khuya hết gác chúng lại mang một xách dầu vào làng để đổi rượu cho hôm sau. Cũng vì vậy mà mặc dù lính tráng các nơi hom hem gầy yếu, còn riêng đám lính đồn thú nơi này ngày một béo ra. Có kẻ đồn thú nơi đây có một tháng trời mà béo đến nỗi không mặc nổi áo quần, phải quấn quanh mình bằng bao bì. Lại có kẻ đang đêm trốn trại về, vì quá béo nên vợ không thể nhận ra, tưởng rằng kẻ cắp vào nhà, tri hô người bắt trói, mãi sáng sau nhìn kỹ mới dám nhận làm chồng. Khi tàn cuộc rượu đi đứng đã ngả nghiêng, sĩ tốt thường ôm nhau mà hát :

"Thiên hạ xôn xao chuyện khí dầu Tớ thì tớ chẳng biết chi đâu Mỗi hôm tớ xách can 10 lít Ðổi rượu nhâm nhi cũng hết sầu"

Sau mấy năm liền hao người tốn của Cư vẫn không tìm được vàng đen, chỉ thấy khí đất bốc lên mù mịt, nhiều khi che kín cả mặt trời mà dân tình thì lại thường hay đốt khí để nấu rượu, thổi cơm, vì thế mà gây nhiều hỏa hoạn, có khi cháy cả một làng.

Cư thấy vậy bèn nghe lời tướng tâm phúc cho xây hai bồn sắt lớn kể đến mấy chục người ôm để thu gom khí vào, rồi cho ngưng tụ lại lấy được thứ nước màu vàng mà người đời sau quen gọi là "condensat" để đem bán trong dân .

Tin ấy lan ra làm náo động một vùng. Ðắc Hoài một bữa hay tin cũng giật mình ngã nhào từ trên bệ rồng xuống đất, ốm liên miên suốt mấy tháng trời. Bọn thái y các nơi phải đổ xô về phục thuốc, bệnh mới dần lui.

Ngay sau khi khỏe lại Hoài bèn cho tướng tài mang quân đánh úp Ngọc Cư, những mong giành lấy thứ nước màu vàng. Chinh chiến liên miên suốt mấy tháng trời khiến cho cả một vùng biến thành chiến địa, nhưng thắng bại vẫn bất phân. Cuối cùng hai bên phải ngồi vào bàn thương nghị. Theo đó thì mỗi tuần Hoài được phép mang chiến xa chở về 2000 lít, số còn lại đều là của Ngọc Cư.

Có được thứ nước màu vàng, Hoài bèn lệnh cho đám quân giỏi nghề hóa nghiệm phải đêm ngày chế tạo mực in vốn là thứ hàng đang khan hiếm. Khi mẻ mực đầu tiên ra đời có kẻ họ Hoàng tên Thắm quá vui mừng, để nguyên cả áo quần nhảy vào thùng mực, khiến cho người ngợm đen sẫm một màu như chuyện " con công, con quạ " ngày xưa.

Ngọc Cư nghe tin ấy sợ thế lục của Hoài lớn mạnh hơn mình bèn vét hết của kho, lại khấu hết tiền lương của binh sĩ để mua về hai cỗ máy thật lạ lùng mà sĩ tốt quen gọi là cái tuốc-bin. Thứ máy này có thể biến khí đốt kia

thành dòng điện thắp sáng cả một vùng. Cư lại sai những kẻ trí giả lên tận vùng Thanh Miện, Hải Dương học nghề gốm sứ rồi xây lò cao để luyện ra bát đĩa mà dùng. Suốt một vùng từ Ðồ Sơn, Ðông Quan đến Ba Lạt đều ngập tràn loại bát đĩa của Cư. Có kẻ hạ lưu bữa ăn chỉ có mắm muối tương cà cũng bày ra mười mấy loại bát sứ sáng choang để ra vẻ nhà khấm khá. Cũng vì thế mà ân đức của Cư tuới khắp một vùng, có kẻ còn toan lập miếu thờ ngay khi Cư còn sống.

Liệu nghe chúng tâu vậy thì nét mặt buồn rầu, vội làm tờ sớ cáo cấp về kinh để xin viện trợ. Tiếp được sớ tấu của Liệu, Nguyễn Hòa còn đang phân vân chưa biết tính sao thì sực lại có sứ bộ của Liên doanh xin vào yết kiến. Ðứng đầu sứ bộ lần này là kẻ ngoại bang có kèm một lính già chuyên nghề thông dịch. Sứ bộ tâu rằng đã tìm được asphan, ngặt vì chưa biết số lượng ít hay nhiều, nên xin thiên tử cử tướng tài của chư hầu vào giúp sức. Hòa nghe xong cả mừng bèn gọi quan đầu triều là Chu Ðỗ vào thương nghị. Ðỗ tâu: " Muôn tâu thánh thượng đám ngoại bang có lắm phép thuật lạ lùng lại lắm tiền nhiều của. Hiềm vì chúng là giống tham lam lại tráo trở khôn lường, nên chi bằng thánh thượng cùng kẻ hạ thần này đi kinh lý Nam phương một chuyến xem hư thực ra sao". Rõ thực là :

" Nam phương xa đất cách đường

Khiến Nguyễn Hòa phải dặm trường một phen"

Không biết chuyến này Nguyễn Hòa và Chu Ðỗ có đi kinh lý hay không xem hồi sau mới hiểu.