Nguyễn Quyết Thắng, Ngày sinh: 22.02.1949. quê: Đắc Sở - Hoài Đức - Hà Nội, Tốt nghiệp ĐH Dầu Khí Bucuresti - Romania, 1972, nguyên TGĐ  Lam Sơn JOC. Nhà địa chất dầu khí, nhà thơ, đẹp trai, nhiều tài, hiếu thắng, đoạt giải “cái lưỡi vàng” của ngành Dầu khí Việt Nam.
1. VÀO NGHỀ

Tôi đâu có ý định vào cái nghề lạ hoắc này. Hồi đó, trước khi tốt nghiệp cấp 3 (năm 1966), ông thầy dạy văn và chủ nhiệm tôi suốt ba năm đã nhất nhất bắt tôi ghi vào nguyện vọng 1 là Khoa Văn, Đại học Tổng Hợp do thành tích đợt thi HSG Văn Toàn Miền Bắc của tôi trước đó. “Nguyện vọng 2 thế nào tùy cậu, nhưng nguyện vọng 1 cứ phải viết thế cho tôi!”, ông buông một câu ngắn gọn và đầy chất tướng lĩnh như vậy. Và vì thế, lẽ đương nhiên, cái ước mơ thời thượng cháy bỏng của tôi - Tự động hóa - đành phải dời vị trí xuống hàng đệ nhị. Nhưng rồi con tạo vần xoay, đùng một cái tôi nhận được Giấy Triệu tập đi học nước ngoài (khu vực RM) của Bộ Đại học và Trung học Chuyên nghiệp. Trường “Phượng Hoàng đỏ” (Trường Cấp 3 Đan Phượng, Hà Tây) của chúng tôi có bốn tên được lệnh trát như thế, gồm: Trịnh Minh Hùng, Nguyễn Đăng Liệu, Nguyễn Vinh Quang và tôi. Quang có bố làm Thứ trưởng một Bộ hoành tráng đã kịp đổi sang học Vật Lý Nguyên Tử, ĐH Minsk. Ba đứa chân chì còn lại chúng tôi phó thác cho số phận,, xình xịch theo chuyến tàu xuyên Bắc Kinh, Mãn Châu Lý, Siberia, Moscow, Kiev và dừng lại ở thủ đô Bucuresti của đât nước Romania sau 13 ngày đầy phấn khích. Không biết do tình cờ hay do sự phân công của tổ chức, ba đứa tôi được phân theo ba ngành: tôi học Địa chất dầu khí, Liệu học Địa Vật lý còn Hùng học Khoan. Cả lũ chưng hửng. Chỉ có Liệu là khoái vì được học ngành Vật Lý Địa Cầu (hồi ấy tra từ điển thấy gọi là như thế). Còn bọn Hùng Béo, Giao Béo và mấy đứa học Khoan mãi về sau vẫn cứ giấu ngành học, nói chệch thành Chi đoàn Cơ Khí cho oai chứ chẳng bao giờ tiết lộ với người nhà, nhất là với lũ con gái ngành học của mình. Sau này tôi mới biết IPGG và Polytechnic là hai trường đại học khó nhất ở Romania. Những người không học nổi ở trường Dầu có thể chuyển sang các trường khác học những nghề hay và nhàn hạ hơn nhiều.

Tuổi trẻ háo hức và đầy trách nhiệm. Thời sinh viên tuyệt đẹp cũng qua nhanh. Năm 1972, chúng tôi trở về Tổ quốc trên còn đường sắt liên vận xưa sau 6 năm trời xa cách. Sáu năm trời, đó là thời kỳ Chiến tranh leo thang miền Bắc diễn ra vô cùng ác liệt. Ngay cả khi về tới gần biên giới Việt –Trung, chúng tôi phải dừng lại ở Bằng Tường để chuyển sang xe ô tô tải qua Lạng Sơn về Hà Nội trong đêm lập lòe pháo sáng.Hạnh phúc gặp lại những người thân, hạnh phúc được trở về cống hiến sức mình cho tổ quốc cứ rạo rực, mê say suốt một thời trai trẻ. Tháng bảy trở về. Hai tháng sau cả lũ nhận Quyết định điều động của Tổng Cục Địa Chất (TCĐC) hăm hở đạp xe rời Hà Nội về nhận công tác tại Liên Đoàn 36, Hưng Yên. Khi qua phà Khuyến Lương, Đăng Liệu nhìn cảnh sông nước hữu tình bèn thốt lên: “Sau này dứt khoát tao đặt tên con là Khuyến Lương” (nhưng không ngờ Lương lại là em Khánh, vợ tương lai của hắn, nên lời nguyền kia chỉ còn phân nửa. Và thế là thằng Măng con hắn có tên chữ là Khuyến Nguồn); rồi qua Từ Hồ, gần quê hương cụ lang Hanh nổi tiếng, Hùng Béo cũng đế tiếp: “Con tao sẽ là Trịnh Từ Hồ”. Tuy nhiên thằng cha này đã bước qua lời nguyền, khi hỏi lại hắn chỉ cười hềnh hệch.. Cứ thế, chúng tôi tới Bô Thời, Chợ Gạo mà chẳng hề thấm mệt. Tới ngã ba gần thị xã Hưng Yên, hỏi thăm thì ra đại bản doanh của LĐ 36 nằm bên trái, trên đường đi Hải Dương. Những ngôi nhà toác-xi (tường liếp nan tre trát vôi cát) mái lợp lá mía xếp thành 5 dãy chạy dài theo những bóng cây phi lao thẳng tắp, im lìm. Bên này đường, mấy căn nhà ngói khang trang hơn, khuất sau rặng nhãn, cửa đóng then cài. Sau này tôi mới được biết là Khu Chuyên Gia. Người bảo vệ cho chúng tôi biết Liên đoàn đã sơ tán về Ngọc Trúc. “Các anh cứ đạp xe theo hướng này, tới Phố Rác hỏi thăm đoàn Địa chất là người ta chỉ cho. Nhớ tìm nhà ông Khiết Tổ chức nhé”. Anh ta rít mạnh chiếc điếu cày, hất đầu sang phải dứt khoát rồi phả ra một làn khói hả hê, nhìn chúng tôi đầy kẻ cả.. Lại đạp xe tiếp. Chợt nhận thấy một tên gù lưng trên xe cuốc phía trước, liền bắt chuyện, hỏi thăm. Hóa ra hắn cũng có cùng mục đích. “Ông tên gì? Học ở đâu về đấy?”. Hắn bô bô:“Quyết, Nguyễn Văn Quyết, Bacu. Còn ông?”/“Thắng, Nguyễn Quyết Thắng”/ “Quyết - Thắng, hết sẩy!”. Đấy là lần đầu tiên tôi gặp Quyết Toác. Thế là cả lũ hò reo và lao tiếp về phố Rác. Trời đã nhá nhem tối, cũng may cửa hàng ăn phố Rác vẫn le lói đèn dầu. Bữa cơm “gạo mậu dịch” với mấy miếng đậu kho đạm bạc, chớp nhoáng của mấy gã trai tơ chưa hề vướng bận sao vui và ngon thế. Rồi hỏi thăm đường vào làng Ngọc Trúc. Qua mấy bờ ao lắt léo, đầy gai tre, cuối cùng chúng tôi cũng gặp được ông trưởng phòng Tổ chức để nộp Quyết định điều động ký bởi Tổng Cục phó Trần Tề. “Ở đây không có chỗ ở, các cậu trở về Chợ Gạo nhận giường ngủ tạm nhé. Uống chén nước chè xanh đã rồi đi cho đỡ mệt”, sau khi kết thúc thủ tục trang nghiêm , ông ân cần nói với lũ ngẩn ngơ chúng tôi như thế.

Chúng tôi trở về Chợ Gạo, một trong những nơi phát tích còn được lưu trong bộ nhớ bao người trong một đêm thu như vậy. Những tên tuổi như Liên đoàn trưởng Vũ Bột , LĐP Phan Minh Bích, Bùi Đức Thiệu , rồi Nguyễn Giao, Hồ Đắc Hoài, Nguyễn Quang Hạp, Tăng Mười v.v. đã có từ thời ấy. Ở Chợ Gạo ít ngày thì nhận được quyết định tiếp theo của Liên Đoàn. Tôi được điều về Đoàn 36K( Khoan), Hùng Béo về Đoàn 36 S ( Khoan sâu) Thái Bình, Liệu về 36F (Fản xạ) Cẩm Giàng, Giao Béo láu cá khai mắt cận thị được điều động về làm “Giáo sư trường Sỹ Quan Tân Cầu”( tên anh em thường đùa gọi Trường CNKT Dầu Khí thuở sơ khai là như thế).Sau này chúng tôi mới được biết có một cánh quân khác trong đó có cả mấy thằng cùng lớp đã nhạy bén thời cuộc, bí mật đầu quân cho Tổng cục Hóa Chất, trở thành những thành viên sáng lập ra Ban Hóa Dầu do anh Nguyễn Đông Hải làm thủ lĩnh. Mãi sau này, tới khi gặp nhau tại Đề án sử dụng khí nông Xuân Thủy, nhìn thấy thằng bạn mặt dài Phạm Ngọc Chấp, cán bộ Ban Hóa Dầu từ Hà nội xuống, cả lũ mới “ồ, ra thế!”. Lớp G-160 của chúng tôi có 5 thằng , hóa ra cuối cùng chỉ có Lanh và tôi là thật thà “phục tùng sự phân công của tổ chức” xuống Thái Bình.

2. XUỐNG THÁI BÌNH

Thế là “tan đàn sẻ nghé”, mỗi đứa một nơi. Đạp xe về thăm nhà, biếu bà và bố mẹ được cân đường mua theo tiêu chuẩn tem phiếu rồi buộc một ba lô lương thảo, tôi và mấy đứa bạn bè nhằm Thái Bình thẳng tiến. Đi từ sáng theo đường Phủ Lý, Nam Định, song khi qua được Phà Tân Đệ cũng đã 9 giờ tối. Tầm tã dưới trời mưa, sấm chớp nhằng nhịt, vừa đi vừa í ới gọi nhau cho khỏi lạc. Tới thị xã Thái Bình, rẽ phải qua bệnh viện Việt nam- Bulgaria, chúng tôi về tới Đoàn 36K, Chợ Đậu Thái Bình đã quá 10 giờ tối. Đói, mệt, lạnh vì ngấm nước mưa. Chẳng còn nhớ cái dạ dày lép kẹp ấy được an ủi bằng những vật liệu gì, chỉ biết rằng đêm đó tôi ngủ say như chết…

Tôi được điều về Giếng khoan 36, Nam Hải, Tiền Hải, Thái Bình do anh Thuần làm đội trưởng.Tổ Kỹ thuật gồm 6 người: 2 kỹ sư mới tốt nghiệp ĐH Mỏ-Địa chất (Chiến; Cung); 3 trung cấp địa chất (Hạnh, Thu, Sâm) và tôi. Anh Nguyễn Tiến Hạnh làm Tổ trưởng, chịu trách nhiệm mọi mặt từ mô tả, lấy mẫu gửi phân tích đến tổng hợp báo cáo. Tất cả lực lượng còn lại theo ca, bốc và chuyên chở mẫu về kho; đo các thông số.. Hồi ấy khoan cấu tạo có độ sâu hầu hết khoảng 1200m.. Lấy mẫu 100% từ mặt đất tới đáy giếng. Mẫu có đường kính to như cái phích đựng nước. Chỉ cần xếp 2 thùng mẫu thôi cũng đủ cho 2 người trẻ tuổi thở tới mang tai khi kéo được xe mẫu về kho chứa. Cứ hết đợt lấy mẫu này lại tiếp đợt lấy mẫu khác. Ống mẫu không hom khi tính toán đã nuốt vào lòng gần hết chiều dài lập tức được ngừng bơm dung dịch để khoan khô. Mười centimet khoan khô này sẽ làm thành cái nút đảm bảo giữ an toàn cột mẫu trên khi kéo cần. Và rồi ống mẫu lửng lơ, hai gã thơ khoan lực lưỡng thi nhau đập, cho tới khi nghe tiếng “òng ọc” thân quen vọng ra trước khi làm sàn khoan tung tóe những bùn. Cảnh tượng không khác gì trâu…ỉa.

- Địa chất đâu? Hót ngay!

Bọn thằng Bá, thằng Lược thợ khoan la toáng lên như vậy và cười khoái trá. Chúng tôi hì hục rửa, xếp mẫu theo thứ tự và ghi etiket. Việc mô tả “phớt lục phớt hồng, đôi chỗ xen kết hạch sidêrit..” v.v. đã có anh Hạnh lo, chúng tôi không được chạm vào. Cấm kỵ. Việc của đám kỹ sư trẻ chúng tôi là bốc mẫu lõi, lấy mẫu sà-lam ( mẫu vụn) và thỉnh thoảng nhìn máng dung dịch, ngó nghiêng vào giếng khoan ghi ghi chép chép đường kính bọt khí xuất hiện. Trong lúc chuẩn bị tiếp cần lại sử dụng “thiết bị” đo mực nước thủy tĩnh ( tự chế bằng lon sữa bò “Mộc Châu”, khoét hẳn một bên nắp, còn phía đáy bên kia đục thủng một lỗ nhỏ xíu, luồn qua một sợi dây lấy từ bao xi măng nối dài tùy ý). Đơn giản vậy song cái thiết bị Made in Vietnam ấy công hiệu vô cùng, vì chỉ cần nghe tiếng “bộp!” vọng từ giếng lên khi ống bơ chạm nước là ta có ngay Mực nước thủy tĩnh rồi!

Đội Carotaj (ĐVLGK) do anh Đoàn Thám làm đội trưởng hồi đó được trang bị trạm đo di động lắp trên xe, oách và cơ động lắm. Có một lần khi nhìn cái thiết bị đo bán tự động kia run run vạch một đường điện trở thẳng tuột qua chiều sâu gần hai mươi mét than vừa lấy mẫu tôi đã không chịu và cự lại người đứng máy.. Trạm trưởng Phạm ngọc Diến liếc cột địa tầng thực tế, ngượng nghịu nhìn cái “thiết bị phản trắc” kia, rồi cầm bút chì vạch một đường cong cao, dài đối diện tập than, vẻ đầy tin tưởng. Anh nheo mắt cười: “Thế là xong! Tài liệu khớp không chê vào đâu được!”

Thỉnh thoảng được nghỉ bù, tôi lại đạp xe từ Tiền Hải về quê. Gần 150km, chuyện vặt nếu như xe không bị thủng lốp dọc đường. Thường tôi đi lối Triều Dương, qua thị xã Hưng Yên, Bô Thời rẽ qua đò Vườn Chuối sang Thường Tín rồi đạp thẳng về Hoài Đức quê tôi. Có lần tôi suýt chết. Nếu cứ đi theo lối Ngã tư Canh như cũ, chắc chắn tôi đã dính trận bom B52 điên cuồng thả bom xuống làng Thìa Yên Bệ. Hơn 60 người chết. Nhà cửa, cây cối tan hoang. Mấy ngày sau thấy mùi hôi thối còn phát hiện ra những xác người, xác trâu bò bị vùi lấp. Hôm ấy trời xui đất khiến thế nào tôi lại đi theo đường An Khánh. Khi hàng lọat B52 nhào qua đầu, tôi chỉ kịp quẳng xe nhào xuống con mương gần đó. Bom ầm ầm trước mặt, cách nơi tôi chỉ vài km. Nghe nói có cuộc họp của Trung Ương dự kiến ở Yên Bệ hôm đó, may nhờ có tin tình báo nên kịp hoãn. Đó là những ngày cuối năm 1972. Cùng năm ấy Hùng Béo lấy vợ. Đầu năm sau (Quý Sửu ) Đăng Liệu cũng làm cái việc “tầy đình” tương tự. Còn lại một mình tôi sống cảnh trai tân lêu lổng cho mãi tới gần bảy năm sau.

Ngày lại ngày thoảng trôi, tôi cứ lặp đi lặp lại những công việc đơn điệu vô tận như thế với những lần bốc mẫu, những ca đêm áo bảo hộ dính bùn, chân đi ủng, ngả lưng trên chiếc máy bơm dự phòng, mũ nhựa úp lên mặt che muỗi và ánh điện, mặc kệ cho tiếng máy bơm ầm ầm bên tai, cứ thế “tẩm bổ mắt” cho tới khi ống mẫu được kéo lên. Và “chát! chát!”. Rồi “ọc! ọc!”. Vội chồm lên. Công đoạn “bốc cứt trâu” như ngôn từ của lũ khoan hay nói kia lại bắt đầu. Dưới ánh đèn pha, âm thanh và cảnh nhầy nhụa của khoan trường mới thấy cách ví von kia thật khéo. Nói thế thôi, từng ấy thời gian ở khoan trường, tôi cũng học được nhiều thứ, nhìn thấy nhiều điều., cả điều hay lẫn điều bậy bạ. Gần đó có gã Lạp Điên lực lưỡng, khỏe như trâu, thường trần truồng vượt sông Hồng sang Xuân Thủy giữa mùa đông giá rét rồi lại quay về bờ Tiền Hải, cười hềnh hệch, vô tư. Đám thợ khoan ranh ma tận dung phần cơm độn ngô thừa cho Lạp ăn no rồi sai hắn vác hết đất sét từ xe tải bỏ vào cối dung dịch gần đó. Hắn cười, nhe hàm răng trắng tởn rồi hì hụi làm, không cần người hối thúc.Có lần Thu, Sâm bị bọn khoan lừa gọi ra nhận thư nhà, trông thấy “giống má” ấy thét toáng lên rồi bỏ chạy. Nhà tôi trọ ở liền kề khoan trường. Suốt ngày đêm nghe tiếng ầm ầm của máy, tiếng ông ổng của thợ, tiếng chan chát của kim loại va chạm. Đôi khi trong đêm còn nghe cả tiếng lè nhè, não nuột của mấy gã thợ khoan “đạo” Bài ca đường 9 Ai chả biết chồng cô đi bộ đội vào Nam, ai chả biết là cô mua cái xe Phượng Hoàng…”. Những về sau, những âm thanh hỗn độn ấy đã hóa thành một thứ không thể thiếu trước khi tôi bước vào giấc ngủ. Thời gian rảnh, bọn tôi, Chiến và Tào địa hóa từ Chơ Đậu xuống lại chơi Remi hoặc đi chợ Mèn “đập phá” nửa ký cá khoai hoặc vài cân cá đuối rẻ tiền, kiếm thêm ít lá lốt mọc ngòai bụi tre về nấu canh chua thù tạc cùng ông chủ Kim. Một thời sống giữa lòng dân vô tư, say khướt. Ôi, cái xứ cói của những người dân quê gọi mẹ bằng “bầu”, cỗ bàn nhất thiết phải có bí ngô và mọi thứ kể cả lúa ngô, phân bón đều được vận chuyển bằng đầu này, chẳng hiểu sao tới giờ tôi mãi nhớ. Cả những lần về Giao An (Xuân Thủy), sang Hồng Tiến hoặc Quang Bình (Kiến Xương), thấy bạn bè xăm xăm mang chậu ra ao múc một chậu nước đục ngầu phù sa, nhặt lên những cánh bèo tấm rồi bỏ mấy con hến vào trong đó rồi giải thích: “Yên tâm, chỉ nửa tiếng nữa là cỗ máy lọc nước này sẽ làm cho nước trở thành trong vắt, tha hồ nấu cháo, pha trà nhé!” mà cứ thấy bâng khuâng. Tôi nhìn các bạn tôi, những chàng kỹ sư trẻ, học hành tử tế, đào tạo bài bản cả trong nước lẫn nước ngoài, bao năm hì hục đắp nền khoan hoặc làm những công việc đơn giản như chưa bao giờ giản đơn hơn thế mà cứ se lòng. Người ta nói đó là “rèn luyện ý thức lao động, quan điểm lao động”. Nói rất hay. Người ít học hoặc kẻ trí trá, cơ hội đều có thể sang sảng thuyết giáo và thăng tiến. Một lần Hùng Béo khênh xi măng sơ ý đánh rơi liền bị một anh chàng thợ khoan nhiếc mắng“chây lười, thái độ lao động không nghiêm túc”.Thằng cha 90 cân “to con nhất Tổng cục” này tức không chịu nổi, chỉ mặt gã nói toẹt:”Im mồm đi! Mày nhớ rằng những thứ mày làm được và khoe khoang, nếu thích tao chỉ vảy tay một cái là xong, còn những thứ trong đầu chúng tao có bây giờ, mày có cố cả đời cũng không bao giờ có nổi đâu!”. Tôi cũng bị một lần như thế. Lần ấy khi sang thăm Hùng Béo, Việt Dova ở GK.32 Hồng Tiến, trong khi anh em mải vui nhậu nhẹt, một anh trung cấp kỹ thuật vô duyên chen vào “thuyết giảng” về ý nghĩa của từng milimet địa tầng và lịch sử hình thành trái đất, sau đó cao hứng, lão phê phán luôn cả lớp kỹ sư trẻ chúng tôi là thiếu kinh nghiệm, tây hóa và không có ý thức cải tạo lao động. Tất nhiên, tôi đã ”phản biện” rất tự nhiên và hài hước làm anh ta khá tẽn tò. Không ngờ sau này khi tôi được điều về Đoàn 36B, anh này tố cáo với cấp trên và cấp trên của anh ta đã nâng thành “quan điểm lao động” khiến tôi phải lao đao trả giá. Có điều mãi về sau, tôi gặp lại khi anh ta đưa con lên Hà nội thi Đại học, trông anh thật là tiều tụy. Có thể thời gian khiến anh ấy đã quên đi chuyện cũ, bởi lúc ra về, anh ấy nắm tay tôi lắc mãi, rồi tần ngần thốt lên điều mơ ước:”Giờ mình già rồi, chỉ ước thuê được mấy sào ao của Hợp tác xã để ngày ngày đi hót cứt trâu về nuôi cá…”

Sau này tôi mới biết hoạt động dầu khí đã bắt đầu khởi động từ 1959 - 1961, khi Chuyên gia Kitovanhi và anh Nguyễn Giao, cộng sự của ông khảo sát và hoàn thành báo cáo” Địa chất và triển vọng dầu khí nước VNDCCH”; Đoàn Thăm dò Dầu lửa 36 được TCĐC thành lập từ ngày 27/11/1961(Quyết định 271/ĐC) rồi phát triển thành Liên đoàn Địa chất 36 trực thuộc TCĐC từ 9/10/1969 ( Quyết định 203/CP), thế nhưng hoạt động thăm dò dầu khí cho tới thời điểm chúng tôi về vẫn tập trung vào việc khảo sát địa chất vùng rìa , khảo sát thăm dò điện, từ, trọng lực, thu nổ một số tuyến địa chấn 2D chất lượng thấp và mấy chục giếng cấu tạo nông choèn 1200m phân bổ khắp Vùng trũng Hà Nội, An Châu khoan bằng bộ ZIF-1200 cổ lỗ có từ thập niên 20 của thế kỷ XX được sơn quét lại và viện trợ. Cái điệp khúc Lấy mẫu, lấy mẫu và lấy mẫu. cứ như những khúc “Nam Ai”buồn xứ Huế.. Lấy liên tục để rồi sau này không còn chỗ chứa, chẳng có ai trông vì cái ông bảo vệ mù ấy đã xin nghỉ việc. Một quyết định hủy không tiếc nuối khối tài sản địa chất khổng lồ ấy được ban hành sau khi đã “lựa chọn đầy đủ một bộ mẫu chuẩn”(!). Kết quả các giếng khoan thông số trên 3000m như GK 100, 101, 102 cũng chẳng có dấu hiệu khích lệ gì. Bao phóng viên mỏi mắt, ngập nửa mình dưới đầm, rẽ bèo tây để đón góc độ đẹp chụp khi thử vỉa cho những tờ báo lớn.Xe cứu hỏa chạy ngược xuôi Giao Thủy để lo phòng cháy chữa cháy. Song cuối cùng đều vô vọng. Khoan mãi mà chỉ thấy cát kết, thấy bột kết, thấy sét kết, thấy hóa thạch, còn sản phẩm cần tìm thì chẳng thấy. Nghe đồn Liên đoàn trưởng Vũ Bột có lần từng than thở với anh bạn Lê Đình Cát của chúng tôi:”Suốt ngày lũ địa chất kia chỉ nhắc hết Anh Kết lại Tôi Kết, còn Dầu khí có thấy quái gì đâu!”. Chẳng thế mà sau này, khi tìm thấy đầu ở GK 61, 63 ông Bột và mấy ông to sung sướng, hả hê đến mức lao vào để “tắm” dầu cho thỏa.

Tôi có lần tí nữa bị dao động xin về Hà nội. Có một người bạn mách tôi về Viện các Khoa học Trái Đất do anh Nguyễn Trọng Yêm, con Bộ trưởng Xuân Thủy làm Viện trưởng..Chả là sau khi gặp anh Yêm, vấn đề cơ bản là xong, chỉ còn là thủ tục hồ sơ vặt vãnh. Câu chuyện “Đắc Sở ngày” cũng bắt nguồn từ đó. Tôi về khai Lý Lịch và chạy ra Ủy ban Xã xin xác nhận. Mãi mới tìm được anh Khóa, Phó chủ tịch kiêm Trưởng công an Xã đang ngủ say tại nhà ông chú tôi (ở quê tôi trước đây, nếu không có họ hàng thì chỉ được gọi là “Anh” thôi và sẽ được chuyển vượt cấp thành “Ông” nếu Anh bắt đầu có Cháu, chứ không có giai đoạn chuyển tiếp như Chú, Bác bây giờ đâu). Tôi lay khẽ.”Gì đấy!”, anh nói qua hơi rượu. “Dạ, em xin anh xác nhận…” . Anh ta bực mình vì bị quấy rầy nhưng cuối cùng cũng ngồi dậy, đi ra một lát và trở vào.”Đưa xem nào”, anh bảo tôi sau khi đã rít một hơi sâu rồi phả ra một làn khói thuốc lào vô tận. Tôi vội xếp ngay ngắn 2 bản Lý lịch lên bàn và nhìn anh viết những dòng chữ nguệch ngoạc: “đắc sở ngày.. tháng…năm….UBHC xã Đắc sở chứng nhận phần khai trước cách mạng, trong kháng chiến, sau hòa bình của anh nguyễn văn thắng ”“Dạ, tên em là Nguyễn Quyết..”-“Làm gì có họ Quyết”, anh lừ mắt nhìn tôi. Thôi đành, tý nữa tẩy rồi chữa vậy. Anh viết tiếp “…khai trên là thực. vậy chứng nhận phần khai trước cách mạng, trong kháng chiến, sau hòa bình của anh nguyễn văn thắng khai trên là thực”. Anh đặt bút xuống dòng và viết tiếp “đắc sở ngày…tháng…năm…”/ “ Anh viết ngày tháng năm ở trên rồi ạ”, tôi nói khẽ. Lại một quả lừ mắt nữa, và lần này thì sâu thẳm. Anh đặt bút ký và viết tên mình: Vương Trí Khóa rồi viết tiếp bản thứ 2 mà chẳng cần phân biệt chữ thường hay chữ hoa như bản trước với nội dung, hình thức và 2 lần “Đắc sở ngày…” “i xì” như thế. May mà tôi có kiến thức về địa chấn và hiểu cái dấu chấm giữa câu kia là một Mặt Phản xạ, chứ nếu không thì đã ngất xỉu rồi. Nghĩ thế mà sao vẫn thấy chạnh lòng . Quê tôi, cái làng Giá, cái làng Cổ Sở, có tên trong sử sách từ đời Lê Lý, nổi tiếng ngàn năm bên đất Kinh kỳ, quanh năm rợp mát bóng dừa ấy nào có xa gì. Nó chỉ cách hồ Hoàn Kiếm chừng 15 cây số đường chim bay và khoảng 20 cây số đường “chim đi bộ”(!).Mọi thứ đã xong, tôi có thể ung dung về Hà nội Nhưng rồi tôi chợt nhớ tới những điều cha tôi thường dạy :“Kiến ngãi bất vi vô dũng dã” ( Thấy việc nghĩa mà không làm, không phải người anh hùng),“Xã tắc hưng vong thất phu hữu trách” (Tổ quốc hưng thịnh hay suy vong, kẻ thất phu cũng đều có trách nhiệm) mà tôi đã gạt bỏ cái ý nghĩ bồng bột trong những phút yếu lòng ấy để vững bước lên đường.

3. VỀ HƯNG YÊN

Tình hình phát triển của các hoạt động tìm kiếm thăm dò dầu khí đã dẫn đến một số thay đổi về tổ chức. Tổng cục Địa chất (TCĐC) đã sáp nhập 2 Đoàn 36K và 36S và chuyển một số yếu nhân ở Hưng Yên xuống Chợ Đậu, Thái Bình làm thành Liên Đoàn 36 mới, chịu trách nhiệm chính về Khoan.Các đoàn 36F-Địa chấn (từ Cẩm Giàng), 36Đ-Điện (từ Mỹ Hào) và 36T-Trọng Lực (từ Ân Thi) được hợp nhất với tên mới là Đoàn Địa Vật Lý chuyển về Chợ Gạo. Ở Hưng Yên, một đơn vị nghiên cứu về Địa chất dầu khí được thành lập có tên là Đoàn Nghiên cứu Chuyên đề 36 B trên cơ sở sáp nhập Phòng Tổng hợp, Phòng Hóa, bộ phận thông tin-Lưu trữ và bộ phận kỹ thuật Đoàn 36C của LĐ36 cũ. Anh Nguyễn Ngọc Sớm được điều động từ TCĐC về làm Đoàn trưởng, anh Nguyễn Giao và anh Lương Trọng Đảng làm Đoàn phó. Tôi cũng được điều động về Đoàn 36 B ít ngày trước đó, khi con dấu và chữ ký của Lãnh đạo LĐ36 cũ còn hiệu lực. Cùng dịp ấy, anh Nguyễn Ngọc Cư cũng được bổ nhiệm làm Chánh Địa chất của LĐ 36 mới. Khi anh từ Đông Hưng về Chợ Đậu, Thái Bình thì tôi đã đi rồi.

Tôi khăn gói quả mướp rời Tiền Hải, Kiến Xương lên thị xã Thái Bình, rồi tiếp tục băng băng qua Cầu Bo, Làng Nguyễn, Phá Triều Dương trở về Hưng Yên. Trụ sở Chợ Gạo lạnh tanh khi xưa giờ đã đông vui, kẻ ra người vào tấp nập. Anh Nguyễn Giao ngày nào gặp tôi trên chuyến tàu từ Liên Xô về nước, giờ là sếp ở đây rồi. Anh đón tiếp tôi thật nồng ấm. Còn Trưởng phòng Lê Quang Trung thì nắm tay tôi ha hả cười: “Cậu về đúng lúc quá, vào đây, nghỉ với tớ luôn cho vui!”. Anh làm việc và nghỉ ngơi ở gian góc trong cùng, nhìn thẳng ra cánh đồng đay. Lê Đình Thám và Lưu Đình Khoa ở ngay phòng bên. Một đám thanh niên như Vũ Kính, Vũ Thư, Trần Huyên, Huy Quý, Mạnh Huyền, Lê Thái, Khoa Giáp …cũng vừa từ Bacu, Rumani và một số nước khác về. Những chiếc xe máy Con Cò, Start, Spac; những xe đạp cuốc với ghi đông khoằm khoằm cứ chiều chiều lượn lờ, làm náo động cả “làng Tây”và khu phố nghèo Chơ Gạo.Trên pbong bì thư, những từ “Địa chất”, “Chợ Gạo” được giấu biến và thay bằng cái địa chỉ khá kêu, nổi tiếng một thời: “Phòng Nghiên cứu tổng hợp, Đoàn nghiên cứu chuyên Đề 36 B, Thị xã Hưng Yên, Hải Hưng” . Thư từ nhìn chung vẫn tới nơi nhưng tìm thì quả rất khó. Nghe đâu có lần bố thằng bạn tôi từ Gia Lương xuống thăm con, đạp xe tìm suốt cả ngày theo cái địa chỉ này mà không thấy đành đạp xe quay về. Tôi ngủ chung trên cái giường đơn với anh Lê Quang Trung ở đầu hồi trong cùng của dãy nhà. Chị Kim dạo ấy vẫn ở trên Trường Trung cấp Vĩnh Phúc. Hai thân trai khỏe mạnh nằm úp thìa vào nhau mùa rét nhiều lúc cũng vướng víu ra trò, nhất là những khi anh mơ vế người vợ phương xa ấy.

Có lần vào buổi chiều, nhìn qua cửa sổ, tôi trông thấy một gã còn trẻ, cởi trần, đầu hói, tóc quăn…một tay xách xô nước giải pha loãng, tay kia cầm chiếc gáo dài, nhẹ tưới cho từng khóm cải cúc đã trổ những cánh hoa vàng mỏng tang, miệng lẩm bẩm đọc thơ : “…Trước cơn giông là đôi mắt em cười/ Chiều lạ quá! chiều ơi, lay động mãi/ Giá lại phải băng qua trăm nẻo đường phá hoại/ Thì hẵn chỗ cuối cùng anh gặp vẫn là em…”/ “Thơ ai mà hay thế anh bạn?”, “Thơ Bằng Việt đấy, bài Những đoạn thơ tình giữa hai cuộc chiến tranh phá hoại. Ông mới về hả?”.

Hắn nhìn tôi, cười rạng rỡ, rồi buông xô, gáo tiến lại gần. Tôi đưa tay ra bắt. Hắn nắm tay tôi, còn tay kia khớp lại làm thành một cái gọng kìm bóp mạnh làm tôi đau điếng. Lần đầu tôi quen Hoàng Xuân Bản như thế. Về sau, tuy rất thân nhau nhưng tôi vẫn thường khéo léo đễ tránh những cú bắt tay chết người ấy của hắn, cho dù biết đó là cử chỉ vô cùng thân thiện. Hắn là dân chuyên ngữ - tiếng Nga, đang học thêm ĐVL, có người yêu cùng quê làm việc tận Lai Châu - Tây Bắc, thảo nào thỉnh thoảng vẫn nghe hắn khẽ đọc “Qua cuộc chiến tranh này, ta vẫn cứ chia ly…”. Hai đứa tôi thường gặp nhau nói chuyện thơ hoặc lang thang ngắm cảnh Hưng Yên.

Mấy tháng sau, tôi chuyển sang đầu hồi bên kia, kề xưởng sửa chữa của 36 F, nơi anh Hoàng Văn Hanh làm Xưởng trưởng. Anh Hanh là chuyên gia điện tử, một “bác sỹ” lừng danh đối với các loại tivi và đài bán dẫn cũ. Cả chính quyền sở tại cũng nể trọng vô cùng. Tôi nhớ chuyện có lần anh được mời xuống một xã ven thị để sửa một cái đài Rigonda cho Ủy ban. Anh mải mê chữa mà không để ý tới tiếng gà, tiếng vịt hấp hối xen lẫn tiếng cười nói hân hoan ở phòng bên. Đến gần trưa và việc cũng đã xong, một cán bộ bê chậu nước vào để anh rửa tay rồi mời sang Hội trường. Anh giật mình và định rút lui thì đồng chí Phó chủ tịch phụ trách văn-xã đã chộp lấy tay anh và cám ơn rối rít. Ông hướng về phía mọi người dõng dạc:”Kính thưa các đồng chí lãnh đạo Ủy ban, các đồng chí chủ nhiệm Hợp tác xã, các đại diện đoàn thể. Hôm nay, nhân ngày Chủ nhật, được sự chiếu cố lãnh đạo Đoàn Địa chất trên thị xã đã cử anh Hanh, chuyên gia điện tử xuống giúp xã ta. Để tỏ lòng biết ơn, chúng tôi có làm mấy mâm cơm rau và chút rượu quê mời anh Hanh và tất cả các đồng chí cùng chung vui nhân sự kiện quan trọng này. Xin mọi người nâng cốc!”. Và tiếng vỗ tay ầm ầm. Và tiếng chạm chén. Người ta còn muốn anh Hanh phát biểu, nhưng vốn hiền lành, anh chỉ đứng lên gật gật đầu chào. Hồi ấy ai chẳng mơ được một bữa “cắn ngập chân răng”, nhưng các quan chức kiếm được cái cớ chính đáng để liên hoan một bữa như chuyện Sửa cái đài cũng đâu phải dễ. Phòng tôi rộng rãi và thoáng mát, phía ngoài là nơi làm việc của Sếp, còn phía trong là 2 giường cá nhân của Lê Văn Thái và tôi. Thái lấy vợ từ hồi cấp 3 trước lúc đi học ở Liên Xô, có ý là để trông nom bố mẹ già. Vợ Thái là cô giáo.Mãi khi tôi về Hưng Yên được ít lâu, hắn mới có đứa con đầu lòng đặt tên là Lê Quang Bình.Quang Bình là địa phương có giếng khoan thông số thứ hai (các giếng khoan này được đánh số thứ tự từ “100”: GK 100 ở Làng Nguyễn, Đông Hưng, GK-101 ở Quang Bình, Kiến Xương; GK.103 ở Vũ Lăng, Tiền Hải; GK.110 ở Cồn Đen, cửa Ba Lạt; GK.102 ở Giao An, Xuân Thủy; GK.104 ở Đình Cao, Phù Cừ, Hưng Yên .. để phân biệt với ”60” cho những giếng khoan có chiều sâu khoảng 2400m) Nhà xa, nhiều khi có việc gấp, hắn lấy xe Sputnik của tôi lọc cọc đạp về Nghệ An. Có lần Tết được nghỉ ít ngày quá, hắn về quê tôi ăn Tết. Hắn hiền lành, khéo tay, gói bánh chưng cái nào cũng như cái nào, vuông chành chạnh. Cả nhà tôi ai cũng khen. Hắn rủ tôi kiếm tre đóng chuồng và mua gà về nuôi. Gà mau lớn và đẻ trứng sòn sòn. Quả là kỳ tích! Nuôi gà vì cơm tập thể đầy ngô, cứng đờ, thật khó nuốt. Bọn láu cá phải dùng mẹo mới đủ no, nếu giữ ý tứ, chậm chạp thì đói là chuyện chắc.Thỉnh thoảng có đứa liều lĩnh ăn trộm được mấy củ su hào tại vườn của LĐT Vũ Bột đem về cho cả lũ luộc ăn, thấy thật đã đời. Đôi khi trời mưa, bọn tôi kéo cả đám Bản, Hí, Chanh, Nguyên xách túi mẫu đi bắt cóc. Chỉ cần lặn lội bãi đay mênh mông phía trước vài tiếng đồng hồ là đủ cóc nhái về làm chả. Thức ăn ngon được nhâm nhi với rượu thuốc Ditakina hay Canhkina do chị Nguyệt y tá vô tình cấp cho những “bệnh nhân ba bị” khiến cho những gương mặt đôi mươi càng thêm mơ mộng. Rồi những cuộc tranh cãi về “Cứu mẹ hay cứu vợ lúc đắm đò” do Trần Đạm nêu ra, chuyện “con tôm con tép”, về “châu chấu cào cào” kéo dài bất tận giữa những anh chàng sống khác vùng miền cho tới khi định nghĩa của tôi tung ra đã làm ngay cả đại ca Đắc Hoài cũng hết cựa: “Tranh minh họa con tôm con tép to nhỏ khác nhau đi đưa bà Còng trong sách Vỡ Lòng là do một anh chàng họa sỹ gốc Thái Bình vẽ, sai bét. Tép là tên gọi để chỉ một tập hợp thủy sinh, sản phẩm của đánh nhủi, đánh dậm. Nó có thể bao gồm cả thòng đong, cân cấn, đuôi cờ, thậm chí có khi lẫn vài con cua nhỏ, nghĩa là toàn loại nhỏ, bé – do đó kẻ nhỏ, yếu thế bị gọi là “đồ tép riu”. Các cụ chẳng nói ‘vơ bèo vạt tép’ là gì? Còn Tôm là những loài vỏ kitin, thân trong, có đốt, đội cả kiếm lẫn cứt trên đầu, lúc hô tiến thì lùi do ‘khiếm thính’. Nếu to được thêm chữ Hùm - Tôm Hùm oai phong; con còi phải mang thêm tiếng Riu - Tôm Riu tội nghiệp”/”Không phải! Tép là danh từ riêng, chỉ loài bé hơn, không lớn được”/”Thế khi bé, con của những thằng cha Tôm kia nó sống ở đâu hay lúc ấy anh gọi chúng là Tép ?”.

Song, có cả những lần quá chén. Tôi nhớ có một buổi tối trước ngày Sáu Hội về Hà Tĩnh nghỉ phép. Hắn đã mua (và cả dùng “thủ đọan” để có) được mấy chai rượu thuốc về làm quà. Bị kích động, Hội đã mang thách đố nếu có thể uống hết. Phạm Xuân Chức tửu lượng thấp tè lại ra oai đã gục ngã đầu tiên. Vũ Văn Kính phải dìu gã Ôtelô ấy về phòng, bôi vôi vào lòng bàn chân, lấy khăn tẩm nước lạnh chườm lên trán. Hắn gào lên: “Tao không say, mẹ thằng nào bảo tao say!”. Nhưng rồi chúng tôi bỗng nghe tiếng phì phì, rồi ồng ộc và bóng Vũ Văn Kính bê chậu lao vút ra vườn liền sau đó...Cuộc sống tinh thần thì miễn chê rồi khi xung quanh Đoàn là cả một rừng hoa Sư phạm10+3, May mặc và nhất là các cô gái Phòng Hóa trên Nhà Thành thường xuyên ghé tới. Họ đem theo, khi thì lọ đường, lúc thì ký đỗ đen úy lạo. Thế nhưng một số gã vẫn mơ về Hà nội bất chấp những cuộc chen mua vé xe nảy lửa, những cuộc phản bội nhỡn tiền để ôm hận với giải thưởng “Đôi mông vàng” “Cái lưỡi vàng” nhiều năm tháng. Cũng có nhiều cặp theo phương pháp cổ truyền “trâu ta ăn cỏ đồng ta” đã thành công như Tân-Cúc, Ức-Hồng, Thư-Thà, Phương-Châu, Quý-Trượng, Thanh-Lương, Hưng-Hiền.v.v.. Bùi Phương, Văn Bản và tôi, với “tài lẻ sở trường” đã góp công trang trí và tổ chức đám cưới cho bao cặp uyên ương thời đó. Nhà tạo mẫu Việt Hùng tương lai (con Hồng Ức) cũng được sinh ra từ cái “lò đúc” Chợ Gạo này. Cái Tivi đen trắng 21 inches chiếu những chương trình thử nghiệm đầu tiên của Đài truyền hình Việt nam được đặt trên một vị trí cao chót vót ở sân bóng gần cổng Liên đoàn cũng là điểm thu hút đám thanh niên. Nhiều bóng hồng đến lắm. Hồi ấy có bộ tứ Quế-Vân-Tiêu-Huỳnh trên Phòng Hóa Thị xã làm thành một nhóm “quýtstộc” sống tách biệt. Sự ít hòa đồng, một phần do 2 gã trai kia thực thi chính sách “bế quan tỏa cảng”. Tuy vậy, sức hấp dẫn của “làng Tây” Chợ Gạo đã làm cho gương mặt khả ái của hoa khôi LĐ 36 – Phạm Kim Quy cũng nhiều lần xuất hiện. Nàng là một người mơ mộng và cả tin. Thằng bạn phong tình của tôi khoe rằng hắn đã nhiều lần “đạo” thơ tôi làm cho cõi lòng nàng tan nát. Sau này, Cường Binh đã một thời đơn phương thương nhớ và kiên cường bảo vệ “người trong mộng” và lên án “bọn khốn nạn!”. Luận điểm “Peugeot cũ còn hơn Thống Nhất mới” đã hình thành vào thời điểm ấy.

Đoàn 36B có 5 dãy nhà toacxi, còn lại mười mấy dãy nhà bên kia “bờ cỏ non” là của 36F. Sáng sáng trong khi mọi người hăng say làm việc, có đồng chí Đào Nhi, hiện thân của giai cấp công nhân với cái đầu cua và đôi ba ta cũ quen thuộc, điềm tĩnh pha ấm chè Thái Nguyên sau khi có nước sôi của cô tạp vụ vừa mang tới để chuẩn bị “phân tích tổng hợp tin tức” cho một ngày mới. Nghe đâu có một lần ông hỏi: “Hôm nay không có báo mới à?”/ “Thưa Thủ trưởng chưa thấy có báo ạ”/ “Cô nói hay nhỉ, không có báo thì tôi biết làm gì ngày hôm nay?!!”, ông đấm mạnh xuống bàn, giận dữ. Cô tạp vụ cúi đầu, tái mặt lui ra. Rồi lại cả chuyện Ông Trần Can, tập kết ra Bắc làm dầu khí, 30 năm theo Đảng không tích, không tiêu…

Chiều chiều văng vẳng tiếng cười đùa của đám phiên dịch Hý, Chanh, Nguyên..; tiếng guitar phình phịch xa gần của Hà Quốc Quân xen giọng oanh vàng Bình Nhưỡng vút cao. Có cả tiếng chân huỳnh huỵch, tiếng “hự! hự!” tự thưởng sau những cú đập trời giáng lẫn tiếng reo hò từ sân bóng chuyền vọng lại. Những dịp thi đấu toàn ngành còn ầm ĩ nữa. Quyết Toác, Tuyến Kều, Ái Béo, Văn Xuyên, Minh Khàn…đều là những tuyển thủ thành danh từ thời đó. Một số chàng trai xuống thị xã, sang sư Phạm 10+3, sang Ấp Dâu cưa kéo. Nhiều vụ tấn công trùng đối tượng đã thành giai thoại. Lâu lâu bên khu Chuyên Gia lại có phim chiêu đãi. Tôi thân với Thảo-Lệ nên hay được mật báo lắm. Có lần, trong một dịp kỷ niệm trang nghiêm, sau khi nghe phía Bạn mở đầu, phía 36F của ta do Đoàn phó Văn Đăng Hàm, nguyên thượng úy Hải Quân đứng dậy đáp từ. Ông nói sang sảng bằng tiếng mẹ đẻ và nội dung được truyền tải sang tiếng Nga ngay tắp lự qua thông ngôn Nguyễn Thuần. Tới phần kết, ông dõng dạc: “Nhân dịp kỷ niệm Ngày Hải Quân Xô Viết…”, sau khi Nguyễn Thuần phiên dịch xong nửa đầu ấy, có lẽ do xúc động quá nên ông quên khuấy mất nửa mệnh đề chính tiếp theo cần phải nói (hoặc tưởng đã nói rồi?), tôi thấy mắt ông sáng rực lên và hô vang tưởng vỡ Hội trường: “Tình hữu nghị Việt-Xô muôn năm!”. Lần đó thông ngôn của ta trở tay không kịp.

Lũ kỹ sư trẻ được lớp đàn anh dìu dắt, chỉ bảo hăng hái hết mình trong công việc. Tôi cũng đã từng lang thang dọc Khe Vần, chứng kiến cảnh anh Lê Trọng đau bụng lả lướt trên đồi chè “vượt cạn” khi khảo sát điểm lộ dầu Núi Lịch (Yên Bái); đã từng miệt mài rìa Tây nam Vùng trũng Hà Nội với các anh Ngô Thường San, Phan Huy Quynh…rồi tối về Ks Ninh Bình ngủ. Phan Huy Quynh hồn nhiên đã bắt bao nhiêu chú ve sầu bỏ vào màn để cùng chung giấc. Tôi đã từng cùng các anh Lê Trọng, Lê Văn Chân, Đỗ Bạt, Lê Huynh và đồng đội đáp tàu Hải quân từ Hải Phòng, vượt sóng lừng Long Châu ra Bạch Long Vĩ khiến hầu như cả đoàn say sóng, trừ anh Cán, anh Chân và tôi (Anh Lê Huynh đã “tận dụng” cuộc say này để nôn ra cả một đôi giun đũa và khổ thân tôi phải khệ nệ bưng chậu sản phẩm kinh hồn của kẻ say mà trút ào xuống biển). Một tháng khảo sát, bắt cua đá và lang thang quanh đảo Bạch Long Vĩ, nhìn hoàng hôn tím phía bờ xa mà không về được do dịch tả ở Hải Phòng bùng phát. “Mỗi sớm em nhìn về phía biển xa/ Hướng mặt trời lên có người thương ở đó/ Những lúc chiều buông trên hòn đảo nhỏ/ Anh đứng lặng nhìn về phía hoàng hôn”. Tôi đã từng viết về chuyến đi như thế.Và còn bao lần xuống các giếng khoan ở Tiền Hải, Xuân Thủy để nghiên cứu và thu thập tài liệu với các đồng nghiệp. Đoàn 36B đã làm được nhiều điều. Bao công trình, bao đề tài đã được Hội đồng Nghiệm thu đánh giá cao, xứng đáng là một đơn vị nghiên cứu khoa học đầu ngành dầu khí thuở sơ khai như thế.

Hồi ấy chưa quyết định yêu ai cả nên tôi chỉ tập trung vào công việc, say sưa làm việc hết mình. Chả thế mà năm nào cũng được bình bầu là LĐTT và ít lâu sau được giao cả “chức” Tổ trưởng Tổ Tổng Hợp thay đ/c Lê Hưng đi thực tập bên Trung Hoa-Đại Khánh. Nhưng có một lần Đoàn trưởng Nguyễn Ngọc Sớm đi họp trên TCĐC về với vẻ mặt hầm hầm tức giận . Sau khi hội ý lãnh đạo, tôi được thông báo danh hiệu LĐTT đã bị hủy. Tôi cự lại và được giải thích: “Có một đồng chí lãnh đạo Liên đoàn 36 Thái Bình tố cáo lên Tổng Cục rằng Đoàn 36B sử dụng toàn cán bộ trẻ, thiếu kinh nghiệm, kiêu căng, có quan điểm lao động sai, thậm chí dám nói việc bốc mẫu là bốc cứt trâu… Việc này khiến đồng chí TCT Nguyễn Văn Điệp rất bất bình”(!?). Tôi không hiểu mức độ bất bình của ông Điệp như thế nào, nhưng chắc chắn là kém tôi khi đó rất nhiều. Tôi đã có một cuộc “tao ngộ chiến” với đối phương khi xuống Thái Bình ngay sau đó, khiến tổ trưởng Địa Hóa - Đặng Ngọc Bích ở phòng bên cạnh được một phen khiếp vía. Vu khống đến thế là cùng! Nào phải câu nói của tôi? Nó chỉ là lời nói tếu của mấy chàng thợ khoan vui tính chứ có ẩn ý gì? Anh có ý đồ gì mà phải rùm beng tới tận Lãnh đạo của cả Tổng Cục? Anh định mượn tôi để làm mất uy tín của 36 B đấy hả? Anh này lúc đầu cao giọng, sau đuối dần. rồi mặt trở nên tím tái. Tôi quay lưng và không hề ngoái lại. Được bữa sướng miệng. Nhưng sau này tôi mới biết mình phải trả giá rất nhiều cho sự rạch ròi này. Bao lần nhiêu lần lãnh đạo cử tôi đi học lớp tiếng Pháp, tiếng Anh nhằm mục đích đào tạo, thì bấy nhiêu lần đều bị gạt ngay từ trứng nước do bị chụp mũ “Có quan điểm lao động sai!”. Anh bạn thân Vương Hữu Oánh trước đây đã dự báo:“Ông phải cẩn thận kẻo sẽ mắc nạn Khẩu Thiệt đấy!”. Thế mà chưa chi đã đúng rồi…

Rồi có những tin vui: Công ty dầu Mobil của Mỹ phát hiện 2 vỉa dầu trong Mioxen ở Thềm lục địa Nam Việt nam và phát hiện mỏ khí Tiền hải C vào tháng 3/1975. Ngày 30 tháng 4 năm 1975: Giải phóng miền Nam. Nước nhà thống nhất. Ngày 3.9.1975, Tổng cục Dầu mỏ và Khí đốt được thành lập trên cơ sở các đơn vị cũ của LĐ36 sáp nhập thêm một bộ phận của Tổng cục hóa chất (Nghị Định 170/CP) do anh Nguyễn Văn Biên làm Tổng cục trưởng. Năm 1976, cấp trên tăng cường thêm Trung tướng Đinh Đức Thiện làm Bộ trưởng phụ trách Công tác Dầu khí. Những cây đa cây đề của làng Dầu Khí Hưng Yên như các anh Nguyễn Ngọc Sớm, Nguyễn Giao, Hồ Đắc Hoài, Lê Quang Trung…đều lên đường nhận nhiệm vụ mới. Đám Võ Kiếng, Lý Huỳnh…chớp cơ hội cũng rục rịch về Hà Nội.

Còn chúng tôi chuyển lên Nhà Thành, thị xã Hưng Yên. Vị trí trụ sở mới thật đắc địa. Nó nằm cạnh đầm sen ngát hương. Nếu lững thững tản bộ qua một đoạn đường rợp mát bóng nhãn là đến ngay Hồ Bán Nguyệt thơ mộng. Chúng tôi làm việc trong tòa nhà vốn là Trường Dòng từ thời Pháp, ba tầng, hình thước thợ khang trang, thoáng mát, hơn hẳn khu Chợ Gạo. Hiềm một nỗi, nhà vệ sinh chỉ có ở tầng dưới cùng. Bởi thế đôi khi vẫn thường thấy những cuộc lao vun vút từ trên cao xuống do bị đau bụng bất thường. Có lần Bộ trưởng Đinh Đức Thiện đi kinh lý xuống 36B, sau khi Đoàn trưởng Lương Đoàn đưa khách VIP lên giới thiệu cơ sở làm việc tại tầng 3, Bộ trưởng “có việc” đi ra ngoài một lát. Ông loanh quanh tìm kiếm cái gì đó, sau một giây lâu, ông trở lại ngay giữa hành lang tầng 3, quyết định tia thẳng một dòng nước ánh vàng xuống khu bể tắm phía dưới, mặt lạnh tanh. Chẳng rõ ông có nói gì thêm nữa không, chỉ biết rằng Đoàn trưởng được một phen mất vía và vội vàng cho xây nhà vệ sinh cho 2 tầng còn lại ngay sau đó.

Hồi ấy là Sơ đồ Khai thác thử Mỏ Khí Tiền Hải C do tổ trưởng Tổ Khí Phùng Đức cùng Oánh,Viện, Trung, Khanh và Mạnh “mũi đỏ” (để phân biệt với Nguyễn Đình Mạnh Địa chất, “mũi thường”!) thiết kế bắt đầu đi vào hoạt động. Khí đã làm thay đổi cả bộ mặt công nghiệp địa phương Thái Bình. Lượng condensat dư thừa cũng đã tạo đầu vào cho Lò Chưng Cất “model nấu rượu lậu” của Trương Đình Hợi tại khu Nhà Thành Hưng Yên. Nó cũng tạo ra bao nụ cười cho CBCNV và quan khách khi thỉnh thoảng được xách về nhà một can Condensat. Thành công khiến người ta cũng dễ bỏ qua các sai sót, kể cả sự cố tốn bạc triệu đô la như vụ Giếng khoan 76. Sau này khi thận trọng xem lại sẽ thấy rõ là có biểu hiện xuất hiện khí tầng nông khá mạnh ở độ sâu vài ba trăm mét, rõ là có quyết định kéo cần tạo hiện tượng piston làm khí phun lên khiến mất cả dàn khoan. Nhưng rồi lòng đất phải gánh chịu vì lòng đất không biết nói. Mọi khuyết điểm là do nguyên nhân khách quan, không bao giờ do người lãnh đạo cả. Mấy năm sau, khi từ Hà nội trở lại Tiền Hải công tác, tôi vẫn nhìn thấy lấp ló đỉnh tháp nghiêng nghiêng trên “cánh đồng năm tấn”. Nhưng rồi nó cứ chìm dần và sau này mất hẳn vì nghe đâu cánh đồng nát tiếc rẻ đã ra tay cưa nốt .

Tôi rời Hưng Yên đúng vào mùa sen nở. Lòng bịn rịn với biết bao kỷ niệm của thời trai trẻ. Văn Bản khoái thơ lắm. Khi tôi rời Hưng Yên, hắn rất buồn và bảo tôi cho hắn chép mấy bài thơ, thi thoảng đọc cho đỡ nhớ. Từng gương mặt các anh chị Hoàng, Thị, Lan, Chân, Thành, Kính, Báo, Lương, Trọng, Đảng/ Kinh, Nguyệt, Sớm, Cần, Giao, Hợp, Muộn v.v cứ thoáng hiện. Ôi khí thế 36B Mạnh- Như- Châu- Húc- Cây- Nhãn một thời! Nhưng mà đâu phải đi xa? Tôi sẽ còn nhiều lần trở lại cơ mà?

Nghĩ vậy, sao lòng tôi vẫn đầy trống trải...

4. VỀ HÀ NỘI

Tôi và anh Đỗ Quang Toàn cũng có chung quyết định điều động về Tổng cục Dầu mỏ và Khí đốt (TCDK) từ tháng 1.1977, nhưng có lẽ do cả 2 anh em nặng vía nên Quyết định kia bị hoãn lại. Phải tới tháng 5.1977, tôi mới chính thức được điều động cùng với Đào Quang An và Trần Khắc Tân về Vụ Kỹ Thuật, TCDK, 48 Nguyễn Thái Học làm việc. Còn anh Toàn phải gần 3 năm sau Quyết định mới được thực thi. Sau này khi đã lên chức Chánh Văn phòng, rồi Vụ trưởng Vụ Hợp tác Quốc tế TCDK, rồi Vụ trưởng Vụ Dầu Khí VPCP, anh vẫn nhớ mãi chuyện xưa và cười tít: “Cứ nói Toàn là phải nhắc đến Thắng rồi”.

TỔNG CỤC DẦU MỎ VÀ KHÍ ĐỐT ( Vietnam Oil and Gas General Departments) là cái tên đầy đủ ban đầu của mình. Phải vài năm sau khi quen dần, nó mới được đổi tên và thay con dấu thành Tổng cục Dầu Khí. Hồi đầu mọi người ngại gọi cái chữ KHÍ lắm. Khí? Nhỡ lầm sang Khí…hư thì sao? Hóa ra cái gì gọi mãi cũng quen. Tôi làm việc ở tầng 2, cùng tầng với Tổng cục trưởng Nguyễn Văn Biên. Ông nguyên là Tổng cục phó Tổng Cục Hóa Chất (TCHC). Một con người thông minh, sắc sảo và dễ mến. Lần gặp ông đầu tiên đã để lại trong lòng tôi một ấn tượng tốt.. Ông quý trọng lớp trẻ, nhất là đội ngũ trẻ tâm huyết và được đào tạo bài bản. Còn hai Tổng cục phó nữa là Lê Văn Cự và Phan Tử Quang. Anh Cự nguyên là Vụ trưởng vụ Kỹ thuật của TCĐC, tốt nghiệp kỹ sư địa chất tại L’Êcole de Mine, C.H. Pháp. Một con người hoạt khẩu và ít khi chịu ngồi yên một chỗ. Đại tá Phan Tử Quang nguyên Cục trưởng Cục Xăng Dầu, Bộ Quốc Phòng lại là một típ người khác. Ông tỏ ra lè nhè, dễ dãi nhưng dám quyết. Những người lãnh đạo cao nhất đầu tiên của Ngành và ekip làm việc Lê Quốc Tuân, Hồ Tế, Đặng Đình Cần, Trần Ngôn Hoạt, Phan Minh Bích, Nguyễn Giao, Nguyễn Quang Hạp, Nguyễn Đông Hải, Dương Quang Thành, Nguyễn Ngọc Liên…đã làm thành một dàn quản lý thuở ban đầu như thế. Lê Văn Hùng làm thư ký cho TCT Nguyễn Văn Biên, thằng bạn cùng lớp Nguyễn Quang Bô của tôi giờ làm thư ký cho TCP Phan Tử Quang, Nguyễn Hữu Lợi về sau cũng làm thư ký cho Bộ trưởng Đinh Đức Thiện. Duy chỉ có mỗi anh Cự chẳng cần ai ngoài “chị Nga” của anh cả.

Tổ chức của TCDK ban đầu khá gọn nhẹ gồm: Văn Phòng, Vụ Kế hoạch-Kỹ thuật, Vụ Kinh tế - Đối Ngoại, Vụ Tài Chính Kế toán, Vụ TCCB và Cục Xây dựng Cơ Bản. Lê Quốc Tuân là Chánh Văn phòng nhưng chưa bao giờ ông lo công việc Văn Phòng cả mà phó thác hoàn toàn cho Phó Văn Phòng Nguyễn Ngọc Liên lo liệu . Ông mải mê mảng Kinh tế- Đối Ngoại cùng anh Đông Hải. Cả anh Đào Duy Chữ, Trưởng phòng Thông tin và nhiều người khác cũng chung niềm đam mê bận rộn ấy. Đó là thời kỳ các công ty dầu khí phương tây bắt đầu vào .Vụ Kế hoạch- Kỹ thuật do anh Phan Minh Bích, nguyên Liên đoàn trưởng Liên Đoàn 36 làm Quyền Vụ trưởng. Người cán bộ miền nam tập kết, tướng mạo như tây, tinh thông ngoại ngữ lại được đào tạo bài bản, xếp vào hàng đệ nhất công thần trong ngành Dầu khí song không tiến thêm được do vướng chuyện gia đình.Vụ Kế hoạch- Kỹ thuật thực ra chỉ là cái tên trên quyết định ban đầu. Khi tôi lên TCDK vào tháng 5/1977 thì Vụ Kỹ thuật đã có từ gần 1 năm trước đó do anh Phan Minh Bích và anh Nguyễn Giao phụ trách. Ít lâu sau anh Bích được điều đông xuống Thái Bình làm Giám đốc Công ty I. Vụ Kỹ Thuật, sau tách thành Vụ Địa Chất vẫn do anh Nguyễn Giao phụ trách cho tới khi anh đi làm Tiến sỹ Khoa học vào cuối 1984 (Anh Nguyễn Giao và anh Hồ Đắc Hoài là 2 Viện-Phó-Không-Viện từ những ngày đầu thành lập Ngành. Sau anh Hoài đi Pháp đào tạo, sau đó về mới có Viện Dầu Khí).

Vụ Kỹ thuật chúng tôi hồi đó có rất ít người: Nguyễn Giao, Trương Minh, Trần Văn Giao, Nguyễn Xuân Đàn, Nguyễn Hữu Lợi, Đào quang An, Trần Khắc Tân, Vũ Văn Mạo và tôi. Chị Khuyên và chị Cần là 2 trung cấp giúp việc. Anh Cự sinh hoạt chung với Vụ Kỹ thuật chúng tôi. Ít lâu sau có thêm các anh Trần Hạ Phương, Trần Đức Hiệp là tiến sỹ hóa cũng về Vụ..Bởi thế mặc dù mới tới mà ai cũng tíu tít vì công việc. Tôi sắp xếp và tổng hợp những tài liệu khảo sát thăm dò ở phía Bắc, các tài liệu của Tổng cuộc Dầu Hỏa thuộc Chính quyền Sài Gòn cũ, đặt lại tên các lô trên Bản đồ các hoạt động dầu khí trên thềm lục địa Việt Nam theo thứ tự “Từ Trên xuống Dưới, từ Phải sang Trái”; tổng hợp những tài liệu các công ty dầu khí nước ngoài hoạt động trước 1975 như Mobil, Shell Pecten, Texas Union, Sunning Dale…, chuẩn bị các tài liệu có liên quan cho các vòng đàm phán với Agip, Deminex, Bow Valley…Lúc rảnh rỗi còn cặm cụi ngồi phác thảo logo của PetroVietnam theo đề xuất của anh Đông Hải, phụ trách Đối Ngoại thời đó. Cái ý tưởng chủ đạo của tôi là Ngọn Lửa. Đường bo trong của ngọn lửa dài phía phải chính là đường bờ biển của Tổ quốc. Ngọn lửa phía bên trái ngắn hơn, ôm trọn Mũi Cà Mau rồi vòng lên phản ánh phần lãnh hải phía Tây Nam.Biển xanh và Lửa đỏ. Hai ngọn lửa mảnh mai như 2 dải lụa tạo thành chữ V-Việt nam, Victory (thắng lợi). Tôi gửi bản thảo đi. Gửi cho vui chứ hồi ấy có ai nghĩ gì tới thi thố. Anh Hà Quốc Quân đôi lần còn nhắc:”Tôi còn nhớ mấy lần lên Vụ Kỹ Thuật đều thấy ông hý hoáy phác thảo Logo Petrovietnam trên tờ giấy milimet đỏ”. Sau này, do không có chuẩn hóa, các nhà thầu nước ngoài vào đọc tài liệu xong khi gửi Báo cáo Minh giải địa chất và đánh giá Tiềm năng dầu khí, đều có logo của Công ty họ. Riêng logo của PetroVietnam, thì được phóng tác tùy hứng, khi giống cái càng cua, khi giống như hai bắp chuối chụm lại và cứ thế tùy tiện dùng cho các Hợp đồng, các tài liệu văn thư v.v cho mãi tới bây giờ.

Tôi được Văn Phòng bố trí ở tại căn hộ 32, Nhà B3 Giảng Võ cùng với các anh Lê Xuân Cảnh, Phạm Huy Thông, Nguyễn Hữu Lợi, Trần Khắc Tân và Trịnh Minh Hùng (biệt phái). Đặng Trần Giao ở cùng nhà nhưng tầng dưới.Về sau có thêm và Ngô Anh Tuấn. Bốn đứa Giao, Hùng, Liệu và tôi trong nhóm “Đại Bàng” (như cách Đỗ Việt gọi) như thế chỉ còn Liệu là vắng mặt. Căn hộ lắp ghép 28m2 mới bàn giao thiếu tất cả các tiện nghi trừ mấy cái giường cá nhân vênh váo.Ăn uống tự lo lấy.Tiêu chuẩn thực phẩm mỗi tháng đươc 6 lạng thịt, mà mua được cũng phải xếp hàng hoặc chen mửa mật. Mua được mớ rau muống già đến lợn ăn cũng ngắc ngứ mà cũng khoái chí đến mức ca lên réo rắt: ”cho ngày nay, cho ngày mai, cho hai ngày sau”. Thẻ thương binh của Búi Ngọc Biểu trở nên thực sự có giá và phát huy tác dụng vô cùng. Được ưu tiên mà. Anh hay thông cảm và cho bạn bè mượn để đỡ xếp hàng. Nhưng để mua được đâu phải dễ. Cứ phải giả vờ nheo mắt méo mồm, nhưng có lần cũng bị lộ và bị cô bán hàng đuổi ra không thương tiếc. Xếp hàng giữa mùa hè cực lắm. Có một lần chị Cần kể với anh em trong Vụ chuyện anh Giao xếp hàng mua thịt. “Chờ mãi, chờ mãi, anh ấy đi xếp hàng từ sáng sớm mà tới quá 12 giờ trưa mới thấy về. Mặt phờ phạc, nhễ nhại mồ hôi. Tôi lục trong làn ra thấy được một miếng thịt bèo nhèo, nên có ý chê bai. Không dè anh ấy nổi giận ném vèo miếng thịt đi. Tôi sợ quá bèn bò vào tít gầm giường lôi được miếng thịt đầy bụi và mạng nhện ra, lùi lũi đi làm cơm, chẳng dám nói thêm một lời nào nữa.”Thời ấy, lấy được vợ bán gạo, bán thực phẩm là một kỳ tích. Chả thế mà có một giáo sư trường Mỏ - Địa chất yêu được cô bán gạo mà cả trường ngợi ca thán phục. Cái gì cũng khan hiếm. Nước phải xách tay từ dưới nhà lên tầng bốn. Do vậy việc sử dụng nước cho cái chu trình khép kín nấu nướng, tắm rửa, vệ sinh…phải khoa học kinh khủng. Ngay chuyện bài tiết nhẹ nhàng (malenkii toalet, như người Nga vẫn nói) cũng phải thật nắn nót cho trúng lỗ. Đứa nào sơ ý khiến âm thanh không tồ tồ đều đặn là chết liền với ông anh Lê Xuân Cảnh. Còn những chuyện “nặng” hơn thì “tuyệt đối cấm kỵ, mặc kệ chúng mày tự xoay sở” .Quả thực hồi ấy có lần tiền bối Phạm Huy Thông bày cho chiêu “ném chéo phi tang” song tôi quyết không học được vì…kinh quá!

Hồi ấy ở cơ quan Tổng cục cuộc sống vẫn còn thiếu thốn lắm. Với tài xoay sở của chị Liên, chị Trúc cũng thỉnh thoảng có thêm mấy chú vịt còi, bát phở “không người lái”. Bữa cơm trưa đựng trong cặp lồng nhiều khi chỉ là mấy cọng dưa. Có hôm chẳng có gì để ăn, không ngủ được, bọn Lợi, Hùng Béo và tôi rủ nhau ra “chiêu đãi” tranh ảnh ở ĐSQ Trung Quốc gần đó cho quên đói. Thỉnh thoảng anh Cự, anh Giao đi họp nước ngoài về cho Vụ chút quà là mọi người hân hoan hẳn lên. Chị Khuyên, chị Cần vội xé báo ra chia cho mỗi người một thìa nhỏ mì chính “Ajinomoto chính hiệu”(hoặc hơn thế dăm ba hạt nếu còn thừa) còn ba gói thuốc lá 555 lập tức được bán đi để đổi lấy con gà hay con vịt và ít bánh phở liên hoan cả Vụ.. Những lần Công ty Đời sống của ông Đại kiếm được mấy con lợn giết thịt thì cả khu 10 Điện Biên Phủ vui như ngày hội. Ma-cà-Túy khi ấy đã thực sự như một nhà ảo thuật và MC nổi tiếng rồi. Với con dao bầu và bàn tay vấy máu, anh cắt phăng con lợn thành những xuất 5 lạng, 1 cân, 1 cân rưỡi, 2 cân chính xác tuyệt vời, gần như chẳng bao giờ phải thêm hay bớt cả. Kể tình những kẻ ranh mãnh vẫn có thể nhận thấy ngay rằng khi chia những xuất cho VIP, cán cân thường chổng ngược lên tới 3- 4 kí nhưng anh vẫn điềm nhiên ném bẹt xuống tờ giấy báo để chờ sẵn đó và hô: “Của anh X. hai cân, xong rồi!”. Đời sống vật chất là thế nhưng tuổi trẻ vẫn còn nhớ những đêm trăng trực chiến, hát hò và nướng sắn nơi Phòng tuyến Sông Cầu, những lần làm cỏ lúa í ới ở Núi Gôi (nơi Thủ lĩnh của PV.Trans Bùi Thọ khi xưa đã từng bị “lưu đày”) và những ngày chung tay mở mang sông Kim ngưu, Tô Lịch. Mọi người nói hồi ấy “Xướng Liên Miên ”* chứ không như sau này chỉ còn “Thỉnh Thoảng Sương Xướng”*…

Ngày 9/9/1977 Thủ tướng Chính phủ ký quyết định 251/CP thành lập Công ty Dầu mỏ và Khi đốt Việt Nam (Tên giao dịch quốc tế là Vietnam Oil and Gas Company, gọi tắt là PETROVIETNAM), trực thuộc TCDKVN để làm việc với các Công ty Dầu khí nước ngoài). Các Hợp đồng Thăm dò được ký cho lô 15 với Deminex (Đức) , lô 04 & 12 với Agip (Ý) và lô 28&29 cho Bow Valley ( Canada) được ký vào thời điểm đó. Anh Đào Duy Chữ hồi ấy sử dụng business card với chức danh Managing Director của PetroVietnam oai lắm. Nhưng rồi anh cũng gặp hạn và rời ngành dầu khí.

Chuyến đi công tác miền Nam đầu tiên của tôi vào năm 1977. Đó là dịp đổi tiền. Sài Gòn phồn hoa, nhộn nhịp xe đò, xe lam, xe máy ban ngày và thỉnh thoảng trong đêm vẫn còn tiếng súng. Cũng nhờ thế của của ông Thiện nhà mình mà hồi ấy quân dầu khí nhà mình oai lắm.“Ăn Lý Tưởng, Ngủ Hoàng Gia, Làm Tòa Đại Sứ” ( Bếp tập thể đặt tại tầng trệt khách sạn Lý Tưởng, đường Đỗ Quang Đẩu; ngủ tại khách sạn Hoàng Gia, Ngã Sáu Phù Đổng; làm việc tại Đại Sứ Quán Mỹ cũ, 7 Mạc Đĩnh Chi, Sài Gòn). Lần đầu tôi đặt chân lên đất Sài Gòn, uống ly sinh tố mà thấy lâng lâng thế. Hời ấy anh Ba Văn Dự mới chuyển ngành cứ ngày ngày ra chợ Muối gần đó lo những món ăn thanh cao đạm bạc cho « nhà hàng » Lý tưởng. Phương tiện đi lại của mọi người chủ yếu là đôi chân vạn dặm.Tôi lang thang dạo Thảo Cầm Viên, chợ Bến Thành, bến Bạch Đằng, dinh Độc Lập lòng dạt dào cảm xúc. Bước vào Đại sứ quán Mỹ, trụ sở của Công ty Dầu Khí Nam Việt nam, tôi gặp lại anh San, khi ấy là Trưởng phòng Kỹ thuật của Công ty. Anh em tay bắt mặt mừng. Hai lính trẻ vừa tốt nghiệp ở Bacu mới về là Nguyễn Văn Đức và Cao Mỹ Lợi cũng rất nhiệt tình trình bày tài liệu. Anh Kha, anh Thọ, anh Hoàng Thành cũng đã vào cả đây. Toàn là người quen cũ. Thật vui !

Vài ngày sau, chiếc xe Jeep của công ty đưa chúng tôi về Đồng bằng sông Cửu Long.Lần đầu tiên xuống miền tây. Xe chạy băng băng giữa hai bên đường nắng bừng hoa giấy. Vàm Cỏ Đông, Vàm Cỏ Tây, Long An, Mỹ Tho, Vĩnh Long, Trà Vinh, Tiền Giang, Hậu Giang, Sóc Trăng, Bạc Liêu…những cái tên chỉ nghe trên radio, trong sách vở, báo chí giờ đây đã hiện ra trước mặt. Tôi đã từng có những đêm ngủ tại Cái Cam ( Vĩnh Long), Bình Thủy ( Cần Thơ) với Đoàn 21,22; đã đi dọc những dòng kênh xanh bạt ngàn dừa nước, những rừng đước ngập mặn ven bờ ; đã từng bị lật bobo khi tới thăm đội khảo sát của Đỗ Chí Hiếu ở Trà Vinh; đã từng xuống tận cửa Định An, nhìn lũ bạn bè tát cá cạnh nền giếng khoan Cà Cối; từng ngồi uống rượu chua bên giếng khoan Phụng Hiệp, nghêu ngao đờn ca tài tử miệt vườn Cần Thơ, lang thang giữa Trà Vinh mất điện, khốn đốn tìm nơi bài tiết cùng Xuân Dịnh giữa bến Ninh Kiều sau khi tự thưởng một ly rau má…để rồi khi trở về mang đầy nỗi nhớ Miền Tây.

Về Sài Gòn trời vừa tối. Nghỉ lại một đêm tại Khách sạn Hoàng Gia và sáng hôm sau lại tếp tục hành trình về Miền Đông. Lần đầu tôi được tận mắt nhìn xa lộ Sài Gòn - Biên Hòa rộng thênh thang, có thành cao phân cách. Hóa ra nó là “sân bay trá hình” mà trước đây tôi vẫn thường nghe?!. Xe tới Ngã ba Vũng Tàu thì rẽ phải thẳng tiến về Ô Cấp. Con đường heo hút. Hai bên đường lác đác mấy ngôi nhà lợp tôn xiêu vẹo, hầm hập nắng trời. Trụ sở dầu khí đặt tại khu trường Thiếu Sinh Quân cũ. Đoàn 21 do ông anh Lê Quang Trung làm thủ lĩnh làm việc tại đây, còn ở thì mãi tận khu Gia Binh xa lắc ( đoạn giữa đường Bình Giã bây giờ). Vũng Tàu hồi ấy, ngoài khu vực trung tâm Bãi Trước, khu Lam Sơn, khu Trường Thiếu Sinh Quân dọc đường Lê Lợi, còn thì xơ xác lắm. Chỉ có phi lao và cát trắng. Dấu ấn chiến tranh còn đầy, nhưng phong cảnh đẹp vô cùng. Sau này cứ mỗi lần trở lại là thấy Vũng Tàu đổi thịt thay da khác hẳn phút ban đầu.

Có một chuyện vui khi tôi trở lại Thái Bình, là lúc Công ty Dầu khí I đang khoan giếng 106 ở Đông Cơ, Tiền Hải. Hôm đó trời mưa to gió lớn. Khi tôi và anh Trần Văn Giao khoác áo mưa bước lên sàn khoan thì gặp 2 kỹ sư trẻ. Hai gã, một cao lớn ít nói, một nhỏ thó nhanh nhẹn niềm nở tiếp các cán bộ Tổng Cục :

- Chào anh ! Em là Cao Tất Toại, thằng này là Vũ Khánh Trường vừa tốt nghiệp ở Bacu về. Các anh ở Tổng Cục à? Trên ấy thích nhỉ? À, các anh có biết ông Chiến không?, gã nhỏ thó hỏi.

- Chiến nào?

- Chiến KSĐC, bạn thân của ông Cư ấy?

- Làm gì có Chiến ?

- Chiến dám nói bốc mẫu là bốc cứt trâu ấy mà  ---  Thắng chứ ?

- Ồ đúng rồi, ông Thắng

- Tao đấy !

- Ấy chết, là anh à?!...

Trời! Hóa ra tiếng lành đồn xa, tiếng dữ đồn xa. Khổ thân tôi, cả hai thằng kỹ sư vừa mới về này cũng đã nghe thiên hạ đua nhau đồn thổi về cái thương hiệu  «bốc cứt trâu » rồi! Tôi thầm nghĩ. Có điều kỳ lạ là chẳng thấy buồn. Sau này tìm hiểu và nghĩ lại, tôi được biết là bản thân anh Trần Cơ cũng chỉ nghe những lời đồn thổi, tâng bốc của đám cơ hội nhằm được sếp yêu hơn và hy vọng tiến thân. Họ chả cần biết tôi phải chịu trận như thế nào và có lẽ họ sẽ hối hận rất nhiều khi biết chính việc làm của họ đã khiến tôi “nổi tiếng”. Sau này về cuối đời, tôi biết anh ấy cũng khổ lắm và thấy chạnh lòng thương.

Một lần có mấy chuyên gia kỹ thuật ở Schlum-berger sang Petrovietnam. Tôi được giao nhiệm vụ dẫn họ tham quan giếng khoan thông số Phủ Cừ và Viện Dầu khí (khi ấy còn ở Hưng Yên). Khi ông Lanata cùng mấy kỹ sư của Schlumberger và tôi đến đoàn 36Y do Đỗ Văn Việt bạn tôi làm đoàn trưởng, tôi thấy hai gương mặt lạ đi theo. Sau tôi được biết đó là hai đồng chí bên An ninh vừa mới tới. Họ cùng ra khoan trường. Lúc ấy đang kéo cần. Bộ khoan cụ được đặt chềnh ềnh trên mặt sàn. Lanata tiến tới ngắm nghía một lát rồi lấy ngón tay quệt nhẹ vào cần ống xem chất lượng dung dịch , rút khăn mùi xoa ra lau tay rồi nhét lại vào túi quần. Tôi ngạc nhiên là ngay sau đó, hai “thám tử” của ta cũng ngó nghiêng, lấy ngón tay quệt vào cần ống rồi lau bùn vào mùi-xoa (nghĩa là lặp lại y nguyên những động tác ấy). Có lẽ họ sẽ đem về phân tích để theo dõi tiếp. Trở về khu Nhà Thành xưa, trước khi bước lên tham quan các phòng thí nghiệm, nhìn thấy Tòa nhà có kiến trúc đẹp đẽ, lại có mấy dòng chữ Pháp ở phía trên, Lanata rút máy ảnh chụp liền mấy cái. Không dè “hành động khuất tất” này bị phát hiện. Sau khi tham quan xong, ra tới cổng thì ông ta bị bảo vệ giữ lại và yêu cầu thu lại phim. Lanata phản ứng. Sau phải có sự can thiệp của anh Trần Xanh và phía ta đã xin lỗi khéo, vụ việc mới ổn thỏa. Thì ra quân mình, với tinh thần cảnh giác cao độ đã hành động sớm.”Bọn này giả vờ chụp ảnh bên ngoài như thế mang về nước rồi phóng laze vào là thấy hết các phòng thí nghiệm bên trong Nguy hiểm quá!”. Những câu chuyện thuở ban đầu như thế, sau nghĩ lại mà cười ra nước mắt.

Hội đồng KHKT TCDK họp lần thứ nhất tại Giảng Võ, Hà nội năm 1977. Anh Đàn và tôi làm Thư ký Hội Đồng. Bao nội dung được đưa ra bàn thảo, bao báo cáo được trình bày. Bộ trưởng Đinh Đức Thiện và Phó Thủ tướng Trần Quỳnh cũng tham dự và phát biểu tại Hội Nghị. Bài nói chuyện của vị Tướng - Bộ trưởng đầy hàm súc, thể hiện một tư duy mẫn tiệp, sắc sảo và tầm nhìn rất xa. Biên bản ghi 13 trang tôi ghi bài phát biểu của ông được Trợ lý Đỗ Ngọc Ngạn đọc lại và hiệu đính chắc còn lưu giữ đâu đó. Giá nghe ông, Tòa nhà PetroVietnam ba nhánh hoành tráng, phía trên có cả sân bay trực thăng do KTS Ngô Viết Thụ (người thiết kế Dinh Độc Lập) thiết kế được trưng bày ở Trung tâm Triển lãm Giảng Võ hồi nào đã sừng sững tọa lạc tại vị trí khách sạn Daewoo ngày nay rồi. “Ta phải làm cái nhà xứng tầm để 50 năm sau vẫn không bị lạc hậu”, ông tâm sự như thế. Tiếc thay, người kế nhiệm ông đã không nhận ra, mảnh đất đắc địa ấy bị trả lại cho Hà Nội và cơ hội đã mất.

Cuối 1978, TCT Nguyễn Văn Biên chuyển sang làm Phó Chủ nhiệm UB Kế hoạch Nhà nước kiêm Viện trưởng Viện Quy hoạch Chiến lược. Một con người thiên hướng hợp tác đa phương, tiếc thay, cái tư tưởng đổi mới của ông hình thành sớm quá . Bộ trưởng Đinh Đức Thiện kiêm luôn cả hai chức lãnh đạo cao nhất về Đảng và Chính quyền. Hàng ngàn người được điều từ bên quân đội sang. Dầu Khí= Quân đội + Chuyên gia Liên xô đã là công thức chủ đạo một thời . Những việc lấn biển ở cửa Ba Lạt, nhổ sú vẹt làm khu cầu cảng Vũng tàu, ý tưởng dùng trâu trải cáp địa chấn , tái chế choòng khoan bằng việc gắp các hạt hợp kim cứng từ choòng cũ đã mòn gắn lại ở Z.175…đều mang dấu ấn của ông. Ông ghét những những học vị, học hàm kiểu hư danh. Của đáng tội, hồi ấy tôi còn nhớ có một Tiến sỹ (TSKH bây giờ) xuất hiện một thời gian dài, chẳng thấy nói gì, viết gì, làm gì rồi lại lặng lẽ biến đi khiến bao người khó hiểu thật. Chả thế mà một thời gian dài ngành dầu khí “ngừng” đào tạo phó tiến sỹ (ngày xưa chỉ gọi là “phó” thôi, ngang với học vị “Candidat” của Liên xô) để rồi sau này “tức nước vỡ bờ”, phong trào lại ầm ầm như thác lũ, hàng loạt PTS ra đời, trong đó có cả những đám bảo vệ gấp gáp kiểu “chạy tang” do deadline sắp hết…

Cùng năm ấy, tòa nhà 4 tầng phía sau biệt thự 80 Nguyễn Du đã được xây xong. TCDK chuyển trụ sở về Nguyễn Du, một trong những đường phố đẹp nhất Hà nội. Bộ máy lãnh đạo và họp hành tiếp khách đặt ở 69 và 71 Nguyễn Du. Vụ Kỹ thuật chúng tôi làm việc ở tầng 2, vị trí đẹp nhât của tòa Biệt thự 80 Nguyễn Du, nơi làm việc trước đó của cục Xây Dựng Cơ Bản. Cây hoa sữa trước nhà tỏa hương. Tòa biệt thự được xây từ thời Pháp, rất đẹp. Mùa đông, những tờ giấy nháp hoặc tài liệu cần hủy có thể đốt ngay trong lò sưởi để sưởi ấm mà tịnh không bị hắt xì hơi vì khói. Một lần hai chị Khuyên, Cần vừa hủy giấy vừa khen nức nở đã bị tôi “xạc” cho một trận về ý thức cảnh giác cánh mạng và lập trường quan điểm: “Khen cái gì? Đó chính là âm mưu thâm độc của Chủ nghĩa thực dân cũ. Nó rút đi mấy chục năm rồi mà vẫn làm mình phục nó. Các bà thấy chưa?”.

Hồi đó quan hệ hợp tác với Pháp đã bắt đầu tiến triển. Bọn Tào, Thư, Quynh, Thám…sau khi học xong khóa tiếng Pháp ở Bắc Giang đã sang IFP thực tập để tiếp nhận các phòng thí nghiệm; đám Địa Vật lý Mạnh Huyền, Trọng Thành, Văn Toán, Đại khiêm cũng được điều về 23 Nguyễn Đình Chiểu để quản trạm máy SN338. Mạnh Huyền với lợi thế cùng quê đã “hạ gục” Hoài Hương vào dịp ấy. Không biết có phải do ảnh hưởng mạnh bởi ngôn ngữ Pháp thời đó chăng mà sau này cái tên “ Xăng-nen” (chanel) cứ mãi gắn liền với hắn đến nỗi mỗi lần họp mà vắng hắn là TGĐ Trần Cảnh còn phải nhắc “Sao chưa thấy Xăng- nen đến nhỉ?”

Tôi có thằng bạn Nguyễn Xuân Ngà làm ở Phòng Thông tin Tư liệu bên 23 Nguyễn Đình Chiểu do anh Đào Duy Chữ và chị Phạm Ngọc Bích làm trưởng , phó phòng. Hắn học tiếng Anh ở Cuba về. Đã từng làm phiên dịch cho phái đoàn ba, bốn bên gì đó như lời hắn nói. Một gã gầy gò, lộ hầu và vui tính. Lúc nào cũng oang oang. Chỉ cần nghe nhạc hiệu “tò tí tò te” mà hắn đoán được và hát theo là “Giải phóng Điện Biên…” lập tức hắn tựa King Kong vỗ ngực ầm ầm: “Thấy chưa? Rất sành nhạc!”. Tôi biết hắn từ thuở ở Hưng Yên do hắn yêu Thị Liêm, khi ấy đang học SP 10+3. Quê hắn ở Tứ Kỳ, Hải Dương. Hắn chơi rất thân với anh Lê Hàn, người Thanh Miện, đệ tử của vụ trưởng TCCB Trần Ngôn Hoạt vì hắn cùng quê, ngày xưa lại ngủ phòng và cùng làm việc ở TCĐC chuyển sang. Hồi mới sang, hắn ngủ trên bàn.Cũng vì lẽ ấy, từ hồi ở Hưng Yên, thỉnh thoảng về Hà nội tôi thường ghé chỗ hắn ở 80 Nguyễn Du, nơi làm việc của Vụ TCCB lúc bấy giờ. Anh Hàn, sau có thêm anh Hạnh lo về hồ sơ nhân sự. Tôi được coi như người nhà. Có lần vô tình nhìn thấy Danh sách tổng hợp CBNV toàn ngành để mở trên bàn, tôi mới biết hắn và Đào Bích Thảo là Kỹ sư Anh Văn; Nguyễn Bá Bốn – KS Nga văn, Lê Văn Nhắc – KS Pháp Văn và chị Võ Kim Tuyên - KS Văn hóa quần chúng(?!)… Hóa ra thằng này giấu mình cả cái “Tít”. Nó chỉ nói là học ĐH tiếng Anh. Nhưng mà giấu thế nào được những nhà Tổ chức. Tôi ngầm giận hắn cho tới khi hắn thông báo phi vụ Thuốc Lào. Chẳng là chúng tôi sẽ tham dự Hội thảo của Agip ở Vũng Tàu. Theo mật báo từ anh rể hắn, giá thuốc lào ở Sài Gòn lúc ấy lên tới 11 đồng tiền mới trong khi giá ở chợ Đồng Xuân chỉ có 7 đồng. Quá ngon. Tôi huy động hết vốn và khả năng vay mượn mua được 3kg .”Loại hảo hạng đấy!”, tôi nghe mụ bán thuốc lào khẳng định như thế. Ngà trường vốn vì có nhiều thế lực hơn: 5kg. Xong rồi. Đóng vào vali. Tối đó hai tên tủm tỉm bước lên tàu, trên một chuyến đi xuyên việt 72 tiếng. Ơi đường vô xứ Nghệ quanh quanh, ơi miền Trung chang chang nắng, Ơi Huế, Đà Nẵng, Nha Trang, Phan Rang Tháp Chàm, Phan Thiết cuối mùa khô hầm hập lửa. Rồi cũng tới ga Bình Triệu. Xuống tàu.Tôi khoan khoái vung tay hít thở bầu không khí Sài Gòn. Bỗng “Toét! Toét!”, có tiếng còi xé gió phía sau. Tôi ngoái lại. “Anh kia, cho kiểm tra hành lý!”. Chết cha rồi! Tôi thầm nghĩ và đau đớn cúi xuống vali. Nắp vali vừa mở, một mùi thuốc lào do ẩm ướt và nóng bức bao ngày ập ra, sặc sụa mắt mũi. “Gì đây?”, “Dạ, thuốc lào”, “Mang làm gì mà nhiều thế?”. “Dạ, làm quà biếu cho người thân”. Tôi đáp liều và hiểu rằng Tài sản kia sắp tong đời. “Thôi, đậy vào mà đi đi”. Sao? Tôi nghe lầm chăng? Thế là tôi thoát ư?? Hú hồn ! Toàn thân tôi như tê dại sau cơn đấu trí căng thẳng ấy. Tốt rồi. Chắc là có “quý nhân phù trợ”.Chúng tôi về nghỉ tại Khách sạn Lý Tưởng. Vừa nhận phòng xong, Ngà và tôi vác “hàng” ra chợ Bến Thành tìm mối tiêu thụ. Đi mỏi chân nhưng bọn gian thương chỉ trả tới 10 đồng. không được. Quyết không để chúng dìm giá! Mang về để sau tìm mối khác bán vậy. Ngày hôm sau, chúng tôi phải đi Vũng Tàu sớm. Tới nơi lại phải lao vào Hội thảo ngay. Tôi chỉ còn cách gọi thằng em Trần Hoàn vừa đi biển về, tóm tắt nhiệm vụ và giao hắn phi thẳng ra chợ Vũng Tàu với định hướng rõ rệt. Ngồi nghe Địa chất trưởng Macagnani trình bày mà trong lòng tôi như lửa đốt. Có chuyện thật. Bởi một lát sau Hoàn nhờ người gọi tôi ra:”Anh ơi, mốc hết rồi!”,”Sao thế? Mà sao không tống đi, bao nhiêu cũng bán?”, “Em nói rồi nhưng nó không mua”. Trời! Bọn gian thương khốn nạn! Để nặng cân, chúng phun nước quá nhiều. Rồi từng ấy ngày trên xe…Thôi, Trời hại ta rồi! Tôi nhìn thằng em. Nó đưa Tài sản cho tôi. Còn tôi đỡ lấy Tài sản đã mốc meo ấy ném vào thùng rác bên đường mà lòng đau như cắt…Sau hội thảo, tôi xuống Vĩnh Long, Trà Vinh. Vay mượn anh em mua được 1 tạ gạo chở từ Miền tây lên tàu, tới Nha Trang lại mua thêm Xoài, tới Quảng Ngãi mua thêm dừa,v.v và bán hết dọc đường cho tới Ga Hàng Cỏ. Ơn trời, “lãi suất” của phi vụ ấy đã bù được vốn thuốc lào! Và từ đó tôi tự biết câu “Phi thương bất phú” là dành cho người khác. Còn tôi, biết phận mình, thề không bao giờ dính vào nữa. “Nhà ngươi ngoài khả năng làm kỹ thuật ra chỉ còn mỗi cách làm..thơ thôi. Rõ chưa!”, tôi nghe tự Ngàn mây có lời tổ tiên thì thầm như thế.. .

Ít lâu sau, Phòng Cơ Điện được hình thành do ý tưởng của tướng Thiện và Tổng cục phó Phan Tử Quang. Các anh Nguyễn Tử Thuấn, Lý Vân Đổng và kỹ sư trẻ Phạm Xuân Nguyên mới tốt nghiệp ở Hungaria về là những người đầu tiên của khối Cơ Điện ấy. Sau đó Nguyên chuyển lên Cục Sáng Chế rồi bặt tin. Cho mãi về sau, khi gặp lại ở sân bay Nội Bài, anh em tay bắt mặt mừng, tôi mới biết Nguyên giờ đã là một doanh nhân khá thành đạt. Đó là gã thanh niên ngày xưa đã hết lòng chuẩn bị cho lễ cưới của vợ chồng tôi ở 80 Nguyễn Du.Vào cuối năm 1979, tôi cũng chấm dứt cuộc sống lang thang. Trước đó cũng đã có nhiều người thương yêu mai mối, kế cả vợ chồng ông bạn Trần Cảnh, nhưng có lẽ do tôi cao số, nên không thành. Lẽ ra việc này có thể tiến hành muộn hơn một chút vì lúc đó người yêu của tôi mới học xong năm thứ 2 Sư phạm song do Thầy tôi mắc trọng bệnh, mẹ tôi và cả nhà muốn Người yên tâm trước lúc ra đi. Vợ tôi khá xinh, ngoan hiền và rất đảm. Vợ chồng anh Hoàng Văn Hanh là ông bà mối. Trước đó một năm, chúng tôi được cử đi học tiếng Anh tại trường ĐHNN. Cùng học hồi ấy có các anh Nguyễn Giao, Nguyễn Lân Dũng ( Bộ ĐH), Hoàng Văn Hanh, Thành “Gicu”, Lâm Quang Ngọc (đạo diễn điện ảnh) …Cô giáo Lê Thu gọi mấy gã gần “băm” chưa vợ như chúng tôi là “Big Boys”. Mấy bà già bạn học thấy cô giáo xinh xẻo bàn nhau “vun” cho tôi. Họ có biết đâu rằng 15 ngày sau khi gặp lũ học trò, cô xuất giá. Anh Hanh chia sẻ nỗi niềm. Sau lần đầu giới thiệu, “cuộc chiến một năm” đã kết thúc có hậu. Đám cưới được tổ chức ở Hội trường TCDK Nguyễn Du. Tất cả mọi người rất vui và chúc phúc cho vợ chồng tôi. Cưới nhau được 2 ngày thì vợ tôi phải về trường. 13 ngày sau đám cưới của con trai, thầy tôi cũng về cõi vĩnh hằng. Một năm sau, vợ tôi được phân về dạy học ở Trường Yên, gần Xuân Mai. Ngày ngày hai vợ chồng đưa nhau ra bến xe Chương Mỹ, cách chỗ ở khoảng 6 km để tôi nhảy tiếp xe bus tới Bến xe Kim Liên, và buổi chiều về theo phương ngược lại. Vợ tôi đón sẵn ở bến xe và hai đứa lại bon bon đạp xe về khu nhà tập thể xây bằng đá ong của trường. Tôi còn nhớ cứ mỗi lần tới gần nhà, vừa thấy bóng chủ từ xa, con mèo tam thể đã chạy lon ton ra đón. Hết năm học ấy vợ tôi được chuyển về dạy ở Đức Giang, Hoài đức.Tháng 9 năm 1981, đứa con gái đầu lòng Ngọc Hà ra đời. Bộ ba chúng tôi sống trong căn nhà tập thể nền đất, mái lợp giấy dầu, chật hẹp và thấp đến mức với tay gần đến nóc nhà. Mỗi nhà đều có một cái lọc nước tự tạo riêng để lọc từ cái giếng nước vàng khè giữa khu tập thể ấy lấy nước ăn uống và tắm giặt. Ít lâu sau chúng tôi được chuyển sang dãy nhà ngói thấp tè đối diện. Nếu gặp trân mưa to kéo dài là có thể thấy guốc dép nổi lềnh phềnh trong nhà. Hàng xóm tôi cũng là gia đình chị Bái. Chị dậy Toán. Tôi chưa bao giờ nghe tiếng chị cười. Ngày ngày chỉ thấy bóng chị lầm lũi đi về, mặt lúc nào cũng cúi nhìn xuống đất. Anh Đắc chồng là y sỹ bệnh viện Huyện Hoài Đức. Vợ chồng anh vất vả như bao người lúc bấy giờ, thêm nữa, thằng bé thứ hai, Mạnh Hùng lại mắc bệnh máu nhiễm mỡ. Thế là cứ nuôi được đàn gà nào là anh lại bắt con trống mới được bảy, tám lạng đè ra thiến cho chóng béo để bán, lấy tiền mua thuốc cho con. Có một lần chủ nhật ở nhà, tôi nghe tiếng máy khâu rè rè bên cạnh. Anh Đắc, chồng chị đang may ga giường cho bệnh viện, kiếm thêm. Chợt thằng Tuấn Anh ở phía dãy bếp lợp giấy dầu phía bên kia sân gào to: “Bố ơi, canh có cho mì chính không hả bố?”. Tiếng máy khâu khựng lại. Rồi một tiếng quát vang rền: “Tổ sư cha mày, đừng có mà khôn mồm! Đã có Mỡ lại còn đòi Mì chính!” Chuyện thật mà nghe cứ như đùa. Cười xong, nước mắt lại ứa trào. Anh Liễn có lần nghe tôi kể lại đã khoái chí thốt lên: Hay thật! Tớ mà có 2 chuyện “Đắc Sở ngày” và “Khôn mồm” như của cậu thì đếch cần làm gì nữa!.

Cuối thập niên 70 của thế kỷ XX, các công ty dầu khí nước ngoài Agip, BowValley, Deminex rút khỏi Việt nam phần do kết quả thăm dò không mấy lạc quan, phần do bối cảnh chính trị và tình hình khu vực không thuận lợi. Ngày 3/7/1980, Chính phủ Việt Nam và Chính phủ Liên Xô (cũ) ký Hiệp định hợp tác tìm kiếm thăm dò khai thác dầu khí ở thềm lục địa Nam Việt Nam. Ngày 19/6/1981 ký Hiệp định thành lập Xí nghiệp Liên doanh Dầu khí Việt Xô (Vietsovpetro) tại Vũng Tàu..Tướng Đinh Đức Thiện chuyển hẳn sang làm Bộ trưởng Bộ Giao thông Vận tải. Tướng Nguyễn Hòa, người từng được đào tạo tại Học viện Quân sự Frunze (Liên Xô), nguyên Tư lệnh Quân đòan I tiến đánh Sài Gòn năm nào về thay. Ít lâu sau ông được điều vào làm Phó TGĐ thứ nhất VSP cùng một đoàn quân Nam tiến nhằm nắm bắt công việc và học cách quản lý, điều hành nhưng vẫn được giữ nguyên chức vụ TCT. Các tùy tùng đi theo ông hồi ấy như Nhậm, Liễn, Liệu, Hùng v.v khi trở ra từ “cái nôi” ấy đều vinh hiển cả. Ngoại trừ Hoàng Phổ và Hữu Lợi, có lẽ do tên chỉ có 3 chữ cái nên phải đợi chờ thêm mấy năm sau. Đến khi tướng Nguyễn Hòa rút hẳn khỏi VSP, thủ lĩnh Trần Cơ của Công ty Dầu khí I được điều vào thay thế. Anh có anh rể làm trợ lý cho cụ Lê Chín nên thế mạnh như chẻ tre. Giá như anh đừng động thủ, cứ phe phảy quạt ngà ngắm nhân tình thế thái thì vị trí đứng đầu ngành dầu khí đã cầm chắc trong tay . Đó là do số trời, do tình thế hay là do cách dụng binh lợi hại của vị tướng này khiến mộng ước chính trường của đối phương tan thành mây khói. Nhưng đấy là chuyện mấy năm sau. Nói tới anh Hòa tôi bỗng nhớ một câu chuyện vui. Có lần xuống đưa công văn đánh máy tôi gặp anh Văn Sỳ bên Vụ Kế Hoạch đang đỏ mặt tía tai, vết sẹo phía bên giật giật:” Sao lại ‘như Que Hàn chỉ thị? Đánh máy thế ả?” “Thế đây chẳng phải Que Hàn thì là chữ gì?”,” Que Hàn mà chỉ thị được à? Đấy là Anh Hòa, rõ chưa!”. Anh điên tiết chỉ cho cô đánh máy “trót” đánh nhầm cái chữ ngoằn ngoèo do chính tay anh viết và khẳng định là “Anh Hòa” (TCT) ấy cho cô này gõ lại. Tôi bắt tay anh chia sẻ. Anh em biết nhau từ lâu. Hồi đến nhà anh ở Cầu Mới, Ngã Tư Sở tìm mãi không ra sau mới biết hàng xóm người ta gọi tên anh là Sỹ. Do kinh nghiệm mách bảo, tôi thường chỉ đưa công văn với nét chữ thảo “rồng bay phượng múa” của mình cho một địa chỉ duy nhất. Cô này mới bên quân đội chuyển sang làm đánh máy nhưng rõ ràng tôi chưa phải lần nào tức giận như anh cả.

Cùng thời gian đó, hàng loạt CBNV được cử đi đào tạo ở Liên Xô. Những kiện hàng chứa áo gió, quần bò Cổ Nhuế, kimono đểu, tinh bột nghệ ùn ùn được chở theo, “một lãi mười”, để đổi lấy nồi áp suất, bàn là “hoa dâu”, đài Rigonda, tủ lạnh Saratov, mai-xo... Sự kiêu hãnh của những nhà du hành vũ trụ “đầu đội áp suất chân đi bàn là” khi trở về đất nước thực sự là hình ảnh lung linh thời đó. Nó là một cuộc đổi đời! Cả sau này nữa, khi có chính sách mở cửa, bao nhiêu người đã đi xuất khẩu lao động, kể cả kỹ sư đi làm những việc chân tay, đóng đồ, lái xe kéo…, người ta vẫn kéo nhau đi ầm ầm. Bao nhiêu người đã không chút do dự rời bỏ ngành như thế cho tới khi cuộc sống sau này trở nên dễ chịu.

Tổ chức cũng có nhiều thay đổi theo xu thế phát triển.Vụ Kỹ Thuật cũng tách thành hai vụ: Vụ Địa Chất và Vụ Khoan- Khai Thác và Cơ Điện. Anh Đặng Cải hùng hồn: “Sau này ngành phát triển, Vụ anh sẽ tách thành hai Vụ: Vụ Khoan và Vụ Khai thác. “Có lý. Em nghĩ xa hơn có thể nó sẽ tách thành ba Vụ”.Anh ngẩn người một lát, rồi khẽvăng ra một câu chửi thề. Và dự báo của anh về sau quả không thành hiện thực. Đó là một người hồn nhiên, nếu được trải đầu ngôi giữa thì trông anh khá giống Hitler. Có lần tôi nói nhận xét ấy, anh không giận mà vui vẻ thừa nhận: ”Ừ đúng, nhiều thằng cũng bảo tao như thế”

Rồi vợ chồng tôi có con. Có thể đứa con gái đầu lòng ấy đã giải hạn cho bố nó. Đầu năm 1982, tôi được gọi tiếp đi phỏng vấn tiếng Anh. May mà họ không nói ngay kết quả mà nhận cả 4 hồ sơ.Tên tôi bị lẫn lộn trong số đó mấy tháng trời. Cho tới phút chót, gần như chả ai thèm nhớ nữa thì tôi được thông báo trúng tuyển đi tham dự khóa đào tạo tại Na-Uy.Thủ tục rất nhanh đến mức những người muốn cản phá trở tay không kịp. Ấy là năm 1982, chuyện đi đào tạo tại một nước tư bản là ghê lắm đâu như bây giờ. Còn nhớ trước đó tôi bị chó cắn hai lần. Nghi là chó dại nên đã phải lặn lội xuống tận ông lang Hào (Thường Tín), phải nhờ vợ Vũ Ngọc An mách nước đến cả Viện Pasteur xét nghiệm. Chẳng hiểu lũ chó mệnh yểu kia khôn hay dại, chỉ biết rằng tôi chẳng việc gì, lại còn được đi Tư Bản. Về sau nhiều gã tổng hợp lại tiêu chí “hai lần chó dại cắn” ấy, ra sức trêu chó và cố ý giơ chân ra mời mà chúng chẳng cắn cho. Bọn tôi được Quỹ Phát triển Quốc tế của Na-Uy (NORAD) tài trợ. Norway có dân số trên 4 triệu người song diện tích xấp xỉ Việt nam và là một trong ba nước có tỷ lệ dọc/ngang dài nhất thế giới ( Việt Nam, Chilê và Na-Uy).Trước kia Norway là một nước nghèo so với những nước ở Bắc Âu. Bằng tài nguyên và trí tuệ của mình, Na-Uy đã trở thành một trong những nước tự chủ và giàu nhất thế giới.Những thời gian học tập và làm việc tại Trường Đại học Kỹ thuật Na-Uy (NTH), những đợt thực tập ở NPD, Statoil, NoskHydro, chiêm ngưỡng “Vòng đời” trong Vườn Tượng Vigland ở Oslo; tuyết trắng mùa đông ở Lilihammer, Midnight Sun mùa hè ở Tromso, những cuộc tiếp xúc với con cháu những Viking thông minh, quả cảm song cũng rất hiền lành và giàu lòng nhân ái đã làm tôi nhớ mãi..“I wish You a Long, Long and Happy Life!”, một bà cụ người Na-Uy đã chúc phúc cho tôi trước lúc trở về đất nước Cho tới mãi sau này, khi trở lại làm khách mời của Na-Uy , ngồi trên trực thăng bay dọc các fjord, nhìn những công trình thủy điện, những con tàu hộ tống Giàn Khai thác dầu Condeep ra khơi mà thấy trong lòng trào dâng một niềm cảm phục.

Tôi bay từ Na-Uy qua Copenhagen , ghé thăm London ít ngày trước khi về Việt nam. Đâu dễ có dịp qua thủ đô của một đế quốc già nhất thế giới này mà lại không mất tiền vé máy bay vì tuyến Oslo- Copenhagen-Bangkok-Hanoi hay Oslo-Copenhagen-London-Bangkok-Hanoi hoặc Oslo-London-Paris-Bangkok-Hanoi có cùng giá vé. Chỉ tiếc là không lấy được Visa qua Paris. “Ở mình, ngoài Bác Hồ ra, đã mấy ai đến được London đâu”, tôi động viên Giáp. Thế là hai anh em qua thủ đô của Vương quốc Anh, ngủ trong Nhà Trọ “Vua George VI” dành cho sinh viên trên đường Kensington tìm được trong Guide Book. Phòng ngủ có mấy giường tầng, một ngọn điện, tắm nước lạnh, không nhà ăn…Thế là tốt rồi, càng “saving cost”. Hai anh em chúng tôi lang thang khắp London.Qua cung điện Burkingham xem Thay gác. Lần ấy thật may, bọn tôi gặp cả Nữ hoàng Elizabeth Đệ Nhị ngồi xe tứ mã và đám tùy tùng cưỡi ngựa đi sang Nhà Quốc Hôi. Đứng bên bờ sông Thames mơ màng nhìn Tháp chuông Big Ben. Thăm các Viện bảo tàng trong đó cả bảo tàng Madam Tussaud nổi tiếng, chụp ảnh với Marelyn Monroe ( lần sau đi cùng Ngô Bá Bạt, tôi chụp với Lênin, còn Bạt chụp với Araphat. Về nhà Bạt chìa ảnh ra khoe, ai cũng nể), rồi vòng về Hyde Park, qua cửa hàng lớn nhất Châu Âu Harrod để “window shopping” trước khi về Nhà trọ…

Rời thủ đô London về tới nhà, gặp lại vợ con, người thân và bè bạn thấy lòng vui phơi phới. Ít lâu sau cả lũ NORAD fellows chúng tôi ( sáu đưa gồm 2 dầu khí; 2 đường biển và 2 chỉnh hình ở bên Bộ TBXH) có giấy báo xuống Hải Phòng nhận xe máy từ Nhật mà hồi ở Na-Uy chúng tôi đã đặt mua .Tất cả mọi người đều nhận được, trừ tôi. Lũ bạn bè nhìn tôi đầy cảm thông và ái ngại. Nguyễn văn Hậu, giám đốc VOSA Quảng Ninh và Hà Đức Bàng, trưởng phòng VOSCO nhanh nhẹn bày cách viết thư cho Hãng. Thống nhất xong nội dung thư, Hậu rút tập giấy pơ-luya ra và nói:”Mày ký sẵn vào đây để tao về bảo thư ký đánh máy gửi đi cho oách. Yên tâm đi!”. Gần một tháng sau tôi nhận được thư anh Hậu từ Quảng Ninh, phong bì lấy của Tây và được ghi như Tây:

”Nguyen Van Hau, VOSA Quang Ninh To: Mr.NGUYEN QUYET THANG PetroVietnam 80 Nguyen Du street, Hanoi, Vietnam”

Chữ được đánh máy vào phía sau trang thư nằm phía dưới lớp giấy bóng kính lịch sự. Tôi mở thư ra đọc. Anh Hậu viết:” Thắng thân mến, yêu cầu của Thắng đã được giải quyết. Chỉ ít bữa thôi chủ Hãng sẽ thực hiện Hợp đồng. Hàng của Thắng chậm nhưng là chậm chắc, còn của chúng mình nhận sớm đấy nhưng nhìn mà nẫu ruột..”. Thư gửi kèm bản đánh máy giấy than viết bằng tiếng Anh có chữ ký của tôi hồi nào. Cái chi tiết “nẫu ruột” số là do hầu hết các thùng hàng đều bị móc trộm. Kẻ mất yên, người mất phụ tùng, chẳng thùng nào vẹn nguyên.

Ai ngờ vài hôm sau khi nhận thư tôi bất ngờ được Đại tá Công an - Cục trưởng cục Bảo Vệ TCDK Nguyễn Vỹ gọi lên nơi làm việc. “Chúng tôi vừa nhận được thông báo của bên An ninh Kinh tế là anh đã có hành vi buôn lậu với người nước ngoài. Anh đã vi phạm Điều..x.. trong Quy định..y... của Bộ trưởng phụ trách dầu khí về việc tiếp xúc với người nước ngoài. Ai cho phép anh sang Na-Uy mà lại buôn bán với người Nhật…? Anh phải tường trình với bên An ninh và làm kiểm điểm để chúng tôi báo cáo lãnh đạo có hình thức kỷ luật thích đáng…”. Tôi lặng người. Liền sau đó tôi được một cán bộ bên An ninh ( Bộ Nội Vụ) gọi riêng ra quán nước phía Trần Bình Trọng thẩm vấn. Anh ta vặn đi vặn lại mong tìm được “sơ hở trong khẩu cung”. Nhưng chỉ có thế thôi, có gì mà nói. Trở về nơi làm việc đọc lại thư, tôi mới giật mình: Chết cha rồi! hóa ra cái thư của ông bạn Hậu, Giám đốc VOSA Quảng Ninh, một trong những đối tượng để An ninh kinh tế theo dõi sát sao cùng với những cụm từ Hợp đồng, Chủ Hãng, Hàng, Thực thi “hoành tráng” kia đã bị bóc trộm và kiểm duyệt. Thảo nào thư đến chậm thế? Thảo nào phía sau mép bì thư hơi nham nhở và có vết bẩn như của nước bọt mà tôi không để ý. Giờ thì cả Cục Bảo Vệ lẫn An ninh Kinh tế vào cuộc thẩm vấn. Tôi phải viết đi viết lại bản tường trình nhưng vẫn chưa được Đại tá ưng thuận. Họ muốn khép tôi vào hai tội “Buôn lậuTiếp xúc trái phép với người nước ngoài, vi phạm Quy Định do Bộ trưởng đã ban hành (!)”. Tôi máu “Tích Lịch Hỏa”, không chịu nổi thêm, gầm lên và chưởng cho ông này một trận đã đời về sự giáo điều, ấu trĩ, thái độ cửa quyền vô lối và quá đáng của ông ta. Tôi sập cửa bước ra ngoài. Những cán bộ Cục Bảo vệ Vũ Khánh Trường, Nguyễn Minh Thu… cùng ngồi tại đó thấy cảnh tượng như vậy cũng thấy “ớn” và thầm lo cho tôi. Tôi kệ đời. Cây ngay lo gì chết đứng.

Cuối tháng 3 năm 1984, vợ chồng tôi có thêm cháu Ngọc Mai, rồi chuyển từ Hoài Đức ra khu tập thể dầu khí Chùa Hà. Có 3 dãy A1, A2 và A3. Nhà A1 là lọai liền kề 2 tầng có ý dành cho cấp cục vụ hoặc tương đương đã xây xong. Chúng tôi được xếp tạm tầng trên của Căn số 4 vì chưa có người đến ở. Ngay cạnh nhà bác Nguyễn Phương Châm, tiếp đó là nhà bác Nguyễn Đình Khuông và đầu hồi là nhà bác Đỗ Ngọc Ngạn. Phía trong còn có các bác Hoàng Lộc, Bùi Quang Diệm, Lê Trọng Cán, Vũ Kim Định, Đặng Đình Cần.. Nhà A2 đang xây dựng có các căn hộ 24m2 . Tôi ở sẵn gần đó chờ, Hồng - Chính xây dựng tại đó, lại rất thân với phó phòng Quản trị Nguyễn Khắc Bảy, nên có khá nhiều thuận lợi để chọn căn hộ ưng ý. Nhà vừa hoàn thiện xong là sang liền. Dãy dưới có Mậu Phương, tôi, bác Thăng, Huy - Bông, Hồng-Chính và Phạm Ngọc Thường. Dãy trên có Đặng Anh Sơn, Nguyễn Trọng Hạnh, Trâm-Loan, Lê Văn Lợi, Vũ Đình Chiến và Đỗ Văn Đạo ( Đạo đã nghe tôi và kịp trở tay vào phú chót!). Nhà tôi ở ngay phía dưới nhà Trọng Hạnh. Ngày Rằm, mùng một, vợ Hạnh đại diện, đều đặn có hoa trái thắp hương.Sau này nhiều người mới phát hiện khu Chùa Hà hay quá thì 2 dãy nhà A1, A2 đã phân hết. Vì thế dù Nhà A3 được thiết kế một tầng, chỉ có 16m2 diện tích ở nhưng cũng đã có đơn xin dài dằng dặc. Sau này chỉ có một số ít người như Phan Thu Hương, Phan Ngọc, Phạm Việt Dũng, Phùng Sỹ Tài, Đặng Sinh, Nguyễn Mạnh Cư, Thanh- Tư và Tài- Mạnh là đắc cử. Hết giờ làm việc, tôi kiếm gạch vỡ và gạch đẽo từ móng tường cũ và trổ tài lẻ xây được một chuồng lợn nhỏ và một bể chứa được chừng 1,5m3 nước. Xây nghiêng hẳn hoi mà không hề dò rỉ.Có nhà, có vợ con xum vầy, một mảnh vườn nho nhỏ và tiếng lợn kêu ủn ỉn trong chuồng..Ôi hạnh phúc! Những chiều hè nóng bức, dọn dẹp xong, xách xô nước vào chuồng lợn tắm, ưỡn người về phía con vật mà dội lên đầu, lên ngực, cả người lẫn lợn đều thấy hả hê, mát rượi. Chuồng cũng sạch theo. Nước được chảy ra hố chứa bên cạnh để tưới rau. Luống rau như hiểu công người cứ lên xanh mơn mởn. Những tối rảnh rỗi, cả nhà lại bồng bế nhau băng qua đám đất ngổn ngang của nhà A3 để sang nhà A1 nghe hai bác Châm - Khuông đàn hát hoặc để kịp xem bộ phim nhiểu tập“Trên từng cây số”. Cái Tivi trắng đen 9 inches của nhà bác Châm đã biến căn nhà thành “Trung tâm Văn hóa” của cả khu thời ấy. Về sau tôi quyết định bán cái tủ lạnh Saratov được một chỉ rưỡi (vì nghĩ có gì để đựng đâu) để mua một chiếc Tivi Sanyo 16 inch đen trắng “chân chống, cửa lùa”, loại secondhand của một cán bộ đáng tin cậy do thằng Nguyên con một ông trung tá giới thiệu.. Mua rất nhanh.Chỉ trong vòng vài phút.Tin tưởng mà. Lúc mang về cả nhà phấn khởi lắm, lắp anten và cắm điện xem liền. Tuyệt vời mười phút liên tục. Tuy nhiên sau đó sang phút thứ mười một, mặt MC Minh Trí cứ dài ra, dài mãi. Chuyên gia điện tử kiêm ông mối Hoàng Văn Hanh đến kiểm tra. Hóa ra “có vấn đề ở biến áp mành”. Rồi cứ thỉnh thoảng anh lại phải giúp tôi chỉnh hình như thế. Ngại quá chừng. Ít lâu sau, Nhà Đài bắt đầu thử nghiệm phát chương trình màu. Thằng em con bà cô tôi tới rủ anh nó đi mua. Nó mua cái JVC còn tôi chơi cái Sanyo 16 inch, vỏ nhựa giả gỗ.Cái TV cửa lùa kia lập tức được mấy người gạ lấy, sau nó được ưu tiên cho ông bạn thân Lê Văn vì vợ hắn ốm, cần có cái ở nhà xem để động viên cho vợ đỡ buồn. “ Lắm lúc tao với thằng Trần Quang mơ giá có nghề đĩ đực để tối tối ra Ô Chợ Dừa-Khâm Thiên kiếm thêm tiền nuôi vợ, nuôi con; chứ cứ phải đi kéo xe bò chở ve chai cho thằng Văn thì cực quá!”, hắn có lần bùi ngùi nói với bạn bè như vậy. Còn nhớ 5 năm trước, khi tôi ở Thành Công, hắn xông vào phòng tôi và đặt phịch lên bài một bọc tướng gói lá chuối. “Thịt chó!”, mắt hắn sáng lên. Tôi lao vút xuống quán nước làm một chai “Quốc lủi”. Cứ thế, thịt chó và rượu, lại rượu và thịt chó. Hóa hắn vừa ở Cà Cối Hậu Giang ra. Bữa ấy hai thằng no say rồi nắm tay thề năm sau cưới vợ. Vì cũng ngượng: năm đứa cùng lớp còn trơ lại mỗi hai thằng. Chúng tôi đã giữ lời hứa: Tôi cưới vợ vào 12/ 11 âm lịch , còn hắn vào 26 tháng Chạp năm Kỷ Mùi (1979) và cùng sinh con một bề, chỉ khác một điều con hắn toàn là thằng cu cả. Hắn là thằng bạn tốt, sống nội tâm và mê viết. Bài ký “Đàn chó hoang ở Bucuresti” đã gây xôn xao một thời. Hình như có gien di truyền, con trai hắn sau này cũng là một cây bút trẻ đầy triển vọng. Hồi ấy mua TV màu là chuyện kinh khủng lắm. Phải dán tịt mấy vạch màu lộ liễu kia đi. Có khách tới gõ cửa, phải ý tứ vặn thành trắng đen để cho “hòa cả làng”, dễ sống. Có lần đến nhà thằng em, chờ giây lâu , thấy chúng tôi vào nó mới sai con mở cửa tủ quần áo, bật TV xem tiếp chương trình. Một chiếc quạt tai chuột nhỏ xíu được khéo léo đặt ở phía sau làm mát máy (!). Bây giờ một mình nó sở hữu cả bao tài sản. Nghĩ lại chuyện xưa, hai anh em phá ra cười…

Do một loạt thay đổi nhân sự, năm 1985, các vụ kỹ thuật lại hợp nhất với tên mới là Vụ Khoa học Kỹ thuật. Viện Dầu Khí cũng có thêm phòng chức năng “Cu-Lờ-Ca-Hát” (Quản Lý Khoa Học) nổi tiếng từ thời đó. Công ty Địa Vật Lý đóng ở Xuân Thủy sau chuyển ra Hải Phòng và đổi tên thành Công ty Địa Vật Lý và Dịch vụ Kỹ thuật (GPTS). LĐ 36 Thái Bình đổi thành Công ty I. Công ty Dầu Khí Nam Việt Nam thành Công ty II v.v. Hồi ấy kinh tế còn khó khăn lắm. Tất cả mọi người đều phải làm thêm để cho cuộc sống đỡ nhọc nhằn. Đám Viện Dầu khí do thủ lĩnh Trần Xanh và Hồ Đắc Hoài trụ tại Thành Công cũng đầy vất vả. Nếu trước kia Trương Quýnh đã từng sủi tăm ngụp lặn vớt rong diếp ở Đầm Sen - Hưng Yên về nuôi lợn khiến Hữu Chỉnh lao xuống túm tóc lôi lên vì nhầm tưởng baba (VB); lão tướng Trọng Cán giữ ý tới nửa đêm hy vọng vắng người và có nước mới đi giặt, thả xô xuống trúng phải đầu Bá Khiết (hóa ra hắn đang ngồi dưới đáy giếng nạo vét từng phân tử H2O v.v.) thì giờ đây nhà nhà dùng khu diện tích phụ của căn hộ lắp ghép chật hẹp ấy để nuôi lợn. Câu “ông Con, cụ Lợn, mụ Vợ, thằng Chồng” đã nói lên phần nào sự tôn trọng loài sinh vật mang về lợi nhuậntương lai nòi giống biết nhường nào.Kỹ sư Địa chất công trình Hà Duy khi ấy mới chuyển từ trường Trung cấp Kỹ thuật Địa chất Vĩnh Phúc về cũng đã từng chai tay cầm càng xe ba gác cùng Đội Chiếu bóng lưu động VDK lang thang khắp miệt Cầu Giấy,Từ Liêm “vì nhân dân phục vụ”. Hồi ấy nuôi lợn, làm bánh quế, cuốn thuốc lá, may quần áo gia công, gột lợn giống.. là những nguồn sống của bao trí thức nước nhà. Trong những “nghề” đó, “gột lợn giống” là hiệu quả cao hơn cả nhưng quả thật rủi ro cũng chẳng kém gì nghề TKTD dầu khí .Vất vả thế nhưng vẫn vui và ở đâu cũng có những giai thoại để cười.

Còn nhớ một tối mùa đông mưa phùn gió bấc năm ấy, hồi tôi ở Trạm Trôi, khi cả nhà đang chuẩn bị đi ngủ thì nghe tiếng gõ cửa. Khe khẽ nhưng dồn dập: “Thắng ơi! Thắng ơi!”, tiếng ai như tiếng thằng Quang? Tôi vội lao ra mở cửa. Trời! thằng Trần Quang bạn tôi áo mưa sũng nước đang đứng đó, phía sau là hai bao tải nặng như chứa đựng lũ gì đang cựa quậy. “Chết cha rồi! hình như có mấy thằng chết! Mày có chỗ nào để thả không?”. Hóa ra hắn vừa đi bắt lợn giống ở quê Đỗ Hinh về. “Có, mang sang đây ngay”, tôi chạy vội vào nhà lấy chìa khóa phòng cô Bích vừa mới gửi để về quê hôm qua. Sơ cứu khẩn cấp mà. Mấy chú lợn còn sống được thả ra run nhong nhóc; hai con vật khốn khổ chết đứ đừ nhưng tấm thân vẫn còn ấm nóng. “Con mẹ chủ nhà tham, cho ăn no lòi cứt để tăng ký nên chúng bị chết do sặc cám; mấy lại đường trơn bỏ mẹ, tao bị ngã mấy lần” Quang làu bàu giải thích. Hai thằng nhanh như cắt kê từng con lên bậu cửa, dùng dao cắt tiết gấp. Thực ra là cố thọc tay moi những tiết đọng hy vọng thịt đỡ đen để còn bán cho Lò quay mà thôi. Trời còn mưa lâm thâm, vợ chồng tôi ra sức níu giữ bạn mà chẳng được. Hắn phải về “giao hàng” gấp và sáng mai còn phải mang phương tiện an toàn khác trở lại mang những chú lợn con kia đi. “Tao bớt lại một chú để chiêu đãi cả phòng Tổng hợp (Viện Dầu khí). Ăn nhòe! Còn một con mang bán cho Lò quay . Huề vốn!”, sau này hắn khoái chí kể với tôi như vậy. Hồi ấy, cái tên như Hồ Đắc Hoài cũng khá nổi tiếng , gây ngưỡng mộ ở Viện Dầu khí. Người ta kể rằng anh có khả năng ngồi thiền, luyện khí công khi họp, múa rốn “nghệ” hơn vũ nữ India và cả cái chuyện “Mất mũ”, chả biết đúng hay sai. Chuyện rằng Phan Huy Quynh mất mũ. Một bữa nọ trông thấy anh Hoài đội bèn bạo dạn nói: “Anh đội mũ của em”, “Bậy nào, mũ của tao chứ”. Quynh Cọ liều mình với chiếc mũ anh Hoài đang đội, lật lên và chỉ: “Mũ của em. Tên em ghi đây mà”. “Trời! thằng bố láo nào dám ghi tên mày vào mũ của tao tự bao giờ thế nhi?”. Tôi cũng đã trực tiếp biết tài phản ứng linh hoạt của anh qua một lần bia bọt ở vỉa hè Giảng Võ. Lần ấy, chiều hè, sau khi đã làm mấy vại bia hơi mát lạnh, tôi vỗ đùi anh:“ Tên anh là nửa huyện em đấy!”, Huyện tôi là Hoài Đức mà. Anh thoáng nghĩ và đáp liền:”Đếch phải, tên tao là cả huyện mày đấy: Đức Hoài!”. Thì ra anh biết ngay là thằng cha này “cài bẫy”, nó bảo mình là Hoài mà không có Đức! Cả lũ nhìn anh nể lắm. Một cây đa cây đề trong làng dầu khí, sinh ra trong một gia đình giòng dõi, cao lớn như tây, đẹp trai, thông minh, nhiều tài lẻ “cầm kỳ thi họa” làm những trái tim Diệu Thúy, Mỹ Bình xưa phải vương vấn, xao lòng có khả năng “ứng đối như thần” thế đấy.

Cuộc sống đang êm đềm thì sóng gió lại ập tới. Khi ấy tôi đang theo học gần hết khóa Trung cấp Lý luận chính trị Mac-Lê “ngoài hàng rào” của bác Ái Châm thì tôi nghe tin có Quyết định điều động vào Xí nghiệp Liên doanh Dầu khí Việt-Xô (Vietsovpetro, VSP) làm việc. Tôi sững sờ. Hai con tôi còn nhỏ quá. Đứa gần ba tuổi. Đứa mới sinh. Vợ tôi một nách hai con làm sao gánh nổi. Sau tôi được biết nguyên nhân:“Thằng ấy như con tằm, được ăn no “dâu” đào tạo trữ lượng ở nước ngoài rồi, giờ phải được phát huy, phải “nhả tơ” chứ? Sao lại có thể cứ nhởn nhơ ngoài này làm thui chột nhân tài và kiến thức được?”. Tôi biết kẻ nào đứng sau chuyện này và biết rõ ngọn nguồn đích thực của nó. Tại tôi cả. Sao cứ thói vô tư mà không bắt chước bao người mang nồi áp suất hoặc bàn là Liên Xô làm lễ dâng hiến, tế thần ? Đồ nghênh ngang, cứng đầu, láo toét! Tôi tự kiểm điểm mình sâu sắc. Thương vợ, thương con, tôi chỉ còn cách xin tạm hoãn thực thi quyết định ít lâu đợi con tôi cứng cáp thêm. Trong tình thế ấy,”đi chưa hẳn là dở, ở chưa hẳn là hay, khi biết có kẻ thọc gậy vào lưng mình rồi, cố bám chân thật chặt có khi ngã sấp mặt”. Tôi nghĩ vậy và lên đường.

Xe lăn bánh, ngoái đầu lại, tôi thấy vợ tôi và hai đứa con thơ đang giơ tay vẫy vẫy…

(Hồi ký “Dầu Khí và tôi” của tác giả Nguyễn Quyết Thắng gồm 9 phần, trong đó phần 1-4 đã được trình bày trong giai đoạn Khởi nguồn. Những phần tiếp theo sẽ được trình bày trong giai đoạn này)

5. VÀO VIETSOVPETRO

Vietsovpetro hoạt động trên một địa bàn rộng lớn suốt từ lô 09, 15, 16 thuộc bể Cửu Long và các lô 04, 05 thuộc bể Nam Côn Sơn, được khảo sát địa chấn và tiến hành khoan thăm dò, sau chỉ giữ lại ba mỏ Bạch Hổ, Rồng và Đại Hùng.Gọi là Xí nghiệp Liên doanh nhưng dưới nó có Cục Khoan, Cục Khai thác, Cục Vận tải, Cục Vật tư và Viện Nghiên cứu Thiết kế Dầu khí Biển (NIPI), nghe có khác gì một cơ quan Bộ hoặc Tổng Cục. Ngày 26/6/1986, XNLD Việt Xô khai thác tấn dầu đầu tiên và Việt nam cũng lần đầu tiên trở thành nước xuất khẩu Dầu. Hồi ấy quan hệ giữa Việt Nam và Liên Xô tốt lắm. Tình đồng chí, anh em thấm cả trong lòng những chuyên gia đầu tiên ấy. Để có những tấn dầu đầu tiên sau đúng 5 năm thành lập, Vietsovpetro đã làm hết sức mình bằng cả trí tuệ và mối tình Xô Việt. Những cái tên tuổi TGĐ Mamedov,Arjanov, Cục trưởng Khoan Phuntov, Viện trưởng Aresev và bao chuyên gia Liên Xô có công đầu ấy cần được ghi nhớ. Các tên tuổi như Ngô Thường San, Nguyễn Giao, Nguyễn Ngọc Cư, Đặng Của, Trần Ngọc Cảnh, Phùng Đình Thực, Trần Lê Đông, Trần Hồi v.v đều đã từng lăn lộn và trưởng thành từ cái nôi của ngành Dầu Khí này. Bao người đã dồn tâm huyết, mồ hôi, công sức, có người hy sinh cả tính mạng khi đang làm việc. Có cả những người mất vì tai nạn giao thông, thậm chí có cán bộ chết vì ăn phải trứng và gan cá nóc do anh em lính tráng không biết là cá độc ưu ái, kính nhường.

Tôi vào đúng thời điểm VSP bắt đầu khai thác tầng dầu Mioxen và lần đầu tiên phát hiện dầu trong Móng Granit nứt nẻ (11/5/1987).Cùng đi với tôi dạo ấy còn có cả Đinh Văn Ngà và Nguyễn Hữu Lợi. Lợi vào làm trưởng phòng Thương Mại; còn Ngà vào chắc có thể cũng giống như tôi, vì “ăn lá dâu IFP ở Pháp” từ mấy năm trước nên đây cũng là một dịp tốt để nhả tơ. Tôi vào Phòng trữ lượng còn Ngà làm ở Phòng Kinh Tế, của NIPI. Phòng Trữ lượng của chúng tôi trừ Pustovoi-Trưởng phòng, Trần xuân Nhuận - Trưởng ĐVLGK và tôi - Trưởng ĐCDK, còn lại toàn anh em trẻ. Nguyễn Quốc Thập, Phạm Tuấn Dũng, Nguyễn Văn Quế, Nguyễn Thành Trung đều trưởng thành từ đây. Đó là một tập thể tốt và đoàn kết. Cả phía các cán bộ kỹ thuật lành nghề Liên Xô như Pustovoi, Sadrina, Aresev và đội ngũ kỹ thuật trẻ Việt nam đã làm việc hết mình. Niềm vui được nhân đôi từ điệu hát Xẩm xoan của Khuất Duy Tiến lúc ấy: “Đất nước Liên Xô phóng lên trên trời một anh thiếu tá họ Phạm tên Tuân/ cùng Go-bát-cổ/ bay vào “vũ tru”/ đất nước Liên xô ngày nay hơn hẳn Hoa Kỳ/ Tang tinh, tàng tình, tang tính, tang tinh…”. VSP thực sự là Cái nôi đào tạo cho các kỹ sư mới vào nghề Thực tế cho thấy những cán bộ trẻ sau khi có vài ba năm công tác ở VSP chuyển sang các công ty dầu khí nước ngoài đều có khả năng bứt phá rất tốt.

Từng ấy thời gian, tôi cũng được tham dự nhiều cuộc họp. Thường người Tây ngồi ở các hàng ghế trên, người Ta thì ngồi mãi phía dưới. Ý kiến chủ yếu là của người Tây, còn người Ta loáng thoáng.Sự thiếu tự tin về chuyên môn và hạn chế về ngoại ngữ nhất là đám anh chị em “non-russian” và bản tính tự ti của người Việt do tháng năm dài nô lệ đã dẫn tới sự phân cách đó. Mới thấy việc nắm vững chuyên môn và ngoại ngữ là điều vô cùng quan trọng.Sau này khi có nhiều Công ty nước ngoài vào, quen dần nhưng vẫn còn nhiều người thiếu tự tin như thế khi đứng trước một người ngoại quốc. Tôi nói đùa với anh em trẻ:“Các cụ có câu ‘Chó cậy gần nhà, gà cậy gần chuồng’, mình là chủ sao lại sợ người lạ chứ. Chẳng lẽ mình không bằng con chó, con gà. Nhưng để có sự tự tin và kiêu hãnh ấy mình phải lăn lộn, phải khổ luyện để có ‘chưởng lực đầy người’mới được”. Nhiều anh em đã tự tin và sau này trở thành những chuyên gia giỏi.

Ngày làm việc bên văn phòng, chiều về Khách sạn Mai Anh nằm đối diện bên kia đường nấu nướng, nghỉ ngơi.Tôi thường lảng tránh tối đa những cuộc thì thầm thế sự, bày mưu tính kế liên tục diễn ra quanh mình do không khoái mấy trò ấy. Ngà và tôi nấu chung bếp. Ngày nghỉ hai đứa thường lang thang cho đỡ nhớ nhà. Khi thì ra Mũi Nghinh Phong trèo lên ống tay Đức Chúa mà ngắm biển; khi thì vòng ra phía sân vận đông Lam sơn, leo lên Vĩnh Nghiêm Thiên Tự rồi theo đường lên tới trạm radar trên đỉnh Núi Lớn. Cứ thế đi mãi cho tới sườn núi bên kia, phía Thích Ca Phật Đài. Quay về chơ Bến Đình, đôi khi hứng chí quyết định mua một góc quả mít về đập phá. Lương được 130 đồng, gửi 100 đồng về nhà, còn thì tiêu “xả láng”. Cuộc sống tuy còn nghèo nhưng cái nhìn về tương lai thì đầy trong sáng. Thấy Trần Khắc Tân gầy gò, dựa vào họ Trần làm tầng Chuẩn (datum) tôi đã liên kết “thô-mịn-thô”, nhịp trùng với tên Nguyên thủ và dự báo cho anh một tương lai xán lạn. Sau đúng thế. Anh đã trở thành Trưởng phòng TKTD của PVEP với cơ thể béo tròn. Cả Trần Văn Kim cũng vậy. Tôi là người cổ súy mãnh liệt để nó đưa Thị Qúy từ Thái Nguyên vào Vũng Tàu. Hồi chiến tranh, có một gia đình cán bộ về sơ tán, không ngờ có người con gái sau này trở thành một đại phu nhân. Sau này, trong chương trình đền ơn đáp nghĩa hắn và mấy cậu dì họ Hồ cùng liên đới vợ chồng đều được thơm lây. Có một lần Công đoàn VSP tổ chức đi tham quan Đà Lạt. Thư ký Công đoàn XNLD Nguyễn Văn Tam có ý trao tôi làm thủ lĩnh chuyến đi. Lần ấy tôi đón vợ vào chơi và dự kiến đi cùng. Vợ tôi đoạt “vô địch say xe nhiều năm liền” nên tôi cố tìm cách thoái thác, chỉ nhận “chức phó khiêm tốn” đi trên chuyến xe số 2. Trần Thanh làm đoàn trưởng và đi xe số 1. Ai ngờ “tránh vỏ dưa gặp vỏ dừa”. Xe tôi bị lật nhào trên đèo Di Linh do thằng cha lái xe trẻ tuổi lần đầu lên Đà Lạt, phóng nhanh và quẹo phải bất ngờ. May mà xe đổ về phía ta-luy dương. Cửa kính vỡ tan. 16 người bị thương. Phụ xe bị văng ra đường bất động. Vợ tôi bị thương ở đỉnh đầu.Tôi bế vợ tôi từ chiếc xe đổ bước ra. Trời mưa. Áo tôi đầm đìa máu làm bao người hết hồn. Kiểm tra lại lần nữa, tôi thấy mình không hề có vết thương nào cả. Ngay lập tức,một số phải đưa đi cấp cứu bệnh viện gần đó. Số còn lại bắt xe khác tiếp tục đi. Bất ngờ có tiếng kêu:”Anh ơi, cái xương em làm sao ấy”. Hóa ra cô Minh bị gãy xương quai xanh lúc nào không biết. Thương mà cũng buồn cười. Tối tới Đà Lạt. Xe đưa ngay đám thương tích nhẹ hơn tới bệnh viện chưa trị. Thế mà ngay sáng hôm sau, những bệnh nhân quấn đầy bông băng, có cả cái cô Minh gãy xương mỏ ác bị bó bột cứng đờ vẫn xin ra Viện để tham quan Đà Lạt. Chuyến đi “bão táp” ấy cuối cùng kết thúc vẫn có hậu: Không có ai bị trọng thương cả. Thời tiết mấy ngày tham quan thật đẹp và mọi người đều vui vẻ. Còn vợ chồng tôi thì nghĩ thật may là không mang con cái đi theo lấn ấy.

Nghĩ lại tôi thấy có quá nhiều lần hú vía trong đời song có lẽ do tổ tiên và quý nhân phù trợ, tôi đều thoát nạn: Lần gặp tai nạn ngã nhào từ xe DD văng xuống Đường 5 ngất xỉu vài phút ở đoạn Trâu Quỳ, may mà không có xe ô tô lao tới. Lần cho Chi, vợ Phô đi nhờ từ Thái Bình về Hà nội chữa bệnh. Tới Bình Lục, lái xe Lưu phóng nhanh vượt ẩu đã đâm vào xe tải chở sắt xây dựng đang đỗ bên đường. Tốc độ cao, cây sắt như đạn bắn đâm thủng một lớp thành sắt phía trước, trượt khỏi tôi rồi chệch ra phía sau đâm thẳng vào Chi. Chỉ cần trệch trái, phải 1 cm, thanh sắt đã xuyên thủng người tôi. Vợ Phô đang có thai 3-4 tháng, theo bác sỹ nói, chỉ cần lên xuống 1 cm, cô ấy cũng nguy hiểm vô cùng . Lần ấy tôi đã phải bế một thân hình bất động từ bệnh viện Bình Lục về tới bệnh viện Bạch Mai do Bình Lục mất điện và thiếu phương tiện chạy chữa. Thằng con trai của Chi- Phô từ hồi còn trong bụng đã chứng kiến cảnh mẹ nó như thế. Sợ thật! Lần bay từ Hà nội vào Vũng tàu công tác, đến sân bay Tân Sơn Nhất thì trời tối đen và cơn mưa bất ngờ ập đến. Không còn nhìn thấy gì nữa. “Pình!”, bánh xe chạm vào đường băng thật mạnh rồi lại bay vút lên cao. Nắp đậy ngăn hành lý văng ra. Trẻ con khóc thét. Cần, em trai của Nguyễn Hữu Lợi hôm ấy ngồi cạnh tôi, tái mặt. Tôi động viên: “Yên tâm! Đi với anh là không sao đâu. Anh cao số lắm!”. Nói đại thế thôi. Nhưng rồi vòng vòng chừng nửa tiếng sau, cơn mưa tan, máy bay lại tìm cách hạ cánh. Lần ấy an toàn. Mãi sau này, tôi bàng hoàng nghe tin Trần Thanh đi xe số 1 an toàn hồi ấy đã chết vì một tai nạn xe máy ở ngay tại Vũng Tàu. Buồn. Mới hay kiếp người thật phù du…

Lương soạn thấp, hàng năm chỉ có thể về thăm nhà vào dịp tết hoặc nghỉ phép. Tranh thủ được chuyến công tác kết hợp là khó lắm. Làm ở XNLD Việt Xô hồi ấy còn vất vả .Phương tiện thông tin liên lạc cũng cực vô cùng . Để nói chuyện được với nhau, có lần vợ tôi phải tới 10 Điện Biên Phủ, Hà nội chờ cả buổi. Một lần tôi đã đi xuyên Việt bằng xe tải, đã ngủ đêm bên lề đường ở Nghi Xuân gần quê cụ Nguyễn Du, tới được nhà mặt mũi nhuốm phong trần, râu ria tua tủa. Những lần về thăm nhà tới giờ tôi vẫn nhớ. Hình ảnh mẹ tôi, vợ con tôi ríu rít trong căn nhà nhỏ ở khu tập thể Dầu Khí Chùa Hà. Cảnh mấy bố con ra trước nhà lấy nước ở cạnh dãy nhà A3. Con gái Ngọc Hà dùng một vòi cao su luồn vào vòi nước máy đang dâng thoi thóp, nó đặt xô gần đó , ghé cái miệng xinh xinh vào ống cao su hút thật mạnh. Nước từ vòi ra. Nó đưa vòi vào xô và nhìn tôi mắt sáng long lanh, hãnh diện. Chắc mọi ngày, chúng đều ra đây lấy nước về cho mẹ. Bé Ngọc Mai cũng đã được 4 tuổi. Nó ngoan lắm.Nghe nói nó còn dỗ cả chị đừng khóc khi mẹ vắng nhà nữa đấy. Những lúc bà nội ở quê bận không ra được với cháu, trên chiếc xe Phượng Hoàng, hai đứa con, đứa trước , đứa sau vợ tôi băng băng chở con đi về trên con đường từ nhà tới trường Mai Dịch và ngược lại. Những buổi tối thăm nhà hi hữu như thế, khi nhìn mấy mẹ con ngồi to nhỏ bên bàn học, tôi cứ lặng thầm. Hình như có cái gì ươn ướt cứ lặng lẽ lăn trên má.

Cuối 1988, Trung tướng Nguyễn Hòa sau khi hoàn thành sứ mạng được giao chuyển lên làm Phó Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế và Ngân sách của Quốc Hội. Sau vụ việc của anh Trần Cơ không thành, Tiến sỹ Trương Thiên nhẹ nhàng lên chức Tổng Cục Trưởng. Cuối 1989, tôi và Đinh Văn Ngà rời Vũng Tàu. Cả Phòng trữ lượng lưu luyến chia tay. Trần Xuân Nhuận và Nguyễn Quốc (tay vẫn còn xách theo cái radio-casset mới mua để học tiếng Anh) tiễn tôi trước cổng KS Mai Anh. Tôi ra Hà nội, chắc bọn hắn cũng buồn. Quốc vào VSP năm 1986. Thông minh, chịu khó, sống trách nhiệm và có tình. Sau khi tôi rời VSP ít lâu, hắn đã về sài Gòn đầu quân cho Schlumberger rồi BP và trở thành một trong những Nhóm trưởng sắc sảo của BP Việt nam thời đó. Hắn bảo vệ luận án tiến sỹ rồi chuyển ra PIDC, PVEP, ở đâu hẵn cũng thể hiện rõ sự sắc sảo, quyết đoán, dám nghĩ dám làm với tinh thần trách nhiệm cao. Nhưng đó là chuyện sau này. Tôi và Ngà dừng chân ở “ĐSQ Mỹ” 7 Mạc Đĩnh Chi, Sài Gòn với mục đích thăm thú bạn bè trước lúc ra Hà nội. Không ngờ xẩy ra câu chuyện “Hà Bá đang ngủ” ngoài ý muốn với gia đình một đồng chí lãnh đạo PV-2 hồi đó…Trưởng phòng Thương mại Vũ Trọng và nhân viên mới về Trường Thanh được phen cười vỡ bụng. Ít lâu sau XNLD có cơ chế mới. Tiền lương tính bằng đô la được quy ra tiền Việt. Cuộc sống được cải thiện đáng kể. VSP đã trở nên một cái tên đầy hấp dẫn. Mừng cho mọi người, mừng cho bạn bè đã qua thời lận đận

6. RA VIỆN DẦU KHÍ

Tôi ra Hà nội vào cuối 1989 song không thể trở về chốn cũ do không dâng được “Bình Ngô Sách”(!). Cũng có một người bạn cũ đồng ý nhận tôi về PV1, nhưng lại là ”PV-1 Hải Phòng”(!). Xa quá.Thế là tôi về Viện Dầu Khí theo lời mời rất chân tình của anh Nguyễn Giao. Anh Giao biết rõ sự việc và luôn là một người tử tế. Trong thâm tâm, tôi nghĩ chỉ ở đây một thời gian nên tôi nói với anh đừng giao tôi bất cứ trọng trách gì. Ngà may mắn hơn đã về đơn vị cũ. Vốn hiền lành, được đào tạo từ IFP, lại thêm mấy cú chuyển lòng vòng suýt chết của Hiếu Sẹo ( sau may mà có người giải cứu!) Ngà đã “lên voi” tới chức Phó TGĐ PetroVietnam để rồi “xuống chó” ít năm sau. Nhưng lúc nào hắn cũng tươi như hoa, bình tĩnh lý giải và tìm thấy cái vui cho mình. Câu phê trên công văn cho nhân viên cấp dưới“Chị Lan Xờ-lờ xong Bờ-cờ tôi ngay!”( Chị Lan x/l xong b/c- xử lý xong báo cáo tôi ngay!) đã làm hắn nổi tiếng một thời và được bao đám thanh niên nể phục.

Hồi đó Công ty dầu khí Total vào ký hợp Đồng ở lô 106- Vịnh Bắc Bộ, đã làm địa chấn và chuẩn bị khoan. Họ tuyển wellsite Geologist. Trong gần 20 ứng viên dự tuyển, tôi là người duy nhất được lựa chọn song cuối cùng tôi đã khước từ vì một lý do riêng. ”Em chả thấy ai như bác cả, lương cao thế mà còn chê”, Hồi ấy thằng em Đương, cùng phòng đã nói với tôi như vậy. Song biết làm sao được. Tính tôi là thế. Năm 1990, tôi tham dự khóa đào tạo tại Shell Trainning Center, Hà Lan. Cùng đi có Hoàn, Đối, Lê Quân (VDK) và Đặng Sinh, Admin Manager của Shell Vietnam. Đó là một “chuyến đi bão táp” vì Phạm Văn Thành, phó phòng Kỹ thuật PV đã chết ở Hà Lan do máu trắng vào dịp ấy. Đó cũng là lần đầu tiên tôi đặt chân tới Paris. Chuyến đi về hai đêm và tham quan một ngày ấy đủ kịp để chúng tôi có được những bức ảnh tháp Eifel, Nhà thờ Đúc Bà, Khải Hoàn Môn, cung điện Elize và sông Sein thơ mộng. Chuyến đi sẽ vui biết mấy nếu Thành đừng ra đi như thế. Mới hai tuần trước, nó còn bàn kế hoạch cho chuyến đi Paris này…

Năm 1988, Công ty Dầu khí I Thái Bình giải thể . Hầu hết lực lượng lao động được tạo điều kiện chuyển vào Vũng Tàu. Anh Nguyễn Văn Đắc, Giám đốc Công ty được điều lên Tổng Cục, và được đề bạt Vụ Phó Vụ KHKT ít tháng sau Từ tháng 4-1989 đến tháng 9-1991, chế độ XHCN ở Đông Âu và Liên Xô lần lượt sụp đổ, Chính sách Đổi mới và Mở cửa bắt đầu kéo theo những biến động lớn trong Ngành Dầu khí. Ngày 6/7/1990, Chủ tịch HĐBT ký Quyết đinh 250/HĐBT sáp nhập Tổng cục Dầu Khí và Tổng cục Địa chất vào Bộ Công nghiệp Nặng. Tổng cục Dầu Khí chính thức bị xóa sổ từ đó và Tổng công ty Dầu khí Việt Nam được thành lập cùng với tên giao dịch nước ngoài là PetroVietnam. Trong Quyết định này, Petrolimex và Petechim được sáp nhập vào PetroVietnam, nhưng do hành động chần chừ, cơ hội đã tuột mất. PTS Trần Ngọc Cảnh, Viện phó NIPI, Vietsovpetro được điều ra và bổ nhiệm làm Trưởng Phòng, anh Đắc làm Phó Phòng KHKT của PetroVietnam. Trước đó anh Đắc được mời sang làm Cục phó Cục Tài Nguyên nhưng cương quyết “kháng chỉ”, chỉ có Phạm Dương, Lâm Linh là hí hửng lên cái “Cu-ta-ngu” ấy rồi phải hút chết mới tháo thân về lại được Viện Dầu Khí. Nhưng chưa đầy hai năm sau, có Quyết định lại đặt PETROVIETNAM trực thuộc Hội đồng Bộ Trưởng (Quyết định 125.HĐBT ngày 14/4/1992) kéo theo việc TCT Trương Thiên được điều lên làm Thứ trưởng, rồi sau đó làm trợ lý cho Thủ tướng Chính phủ Võ Văn Kiệt.

Giáo sư Hồ Sỹ Thoảng, Viện Phó Viện Khoa học Việt Nam về thay anh Trương Thiên làm Tổng Giám đốc. Đó là một người phong lưu, lịch lãm, theo đường lối trung dung như anh từng bộc bạch:”Đi trước thường sa bẫy, đi sau dễ bị hổ vồ, tớ cứ đi ở giữa, chẳng dại gì ”. Anh một mình về làm chủ Nhà 69 Nguyễn Du mà không hề mang theo một tùy tùng nào cả. Dưới thời anh, Phó TGĐ PetroVietnam Lê Chí , thường được nhắc tới như Nhân vật số 2 của Ngành Dầu Khí. Đi đâu xa, anh Thoảng đều ủy quyền cho anh Chí. Khi chuyển trụ sở sang 22 Ngô Quyền, căn phòng đẹp nhất ở tầng 2, góc phố Ngô Quyền- Hai Bà Trưng cũng được dành cho anh Chí. Mọi người đinh ninh ghế TGĐ sẽ chẳng thể là ai khác ngoài anh. Song sự đời không phải thế. Tôi định tiếc cho anh nhưng rồi lại nghĩ phải chăng đó là định mệnh. Giá anh học được đôi điều từ những tấm gương của bao người đi trước, kìm nén bớt giấc mơ đứng trên muôn người mà đừng manh động , thì đâu đến nỗi chết chẹt giữa hai thế lực siêu hình để rồi một đời ôm hận. Còn anh Thoảng vẫn tươi cười và ung dung như một ông quan văn trong sách xưa vậy. Sau này có lần tôi nói đùa với anh :”Giá được quyền, em sẽ bổ nhiệm anh ít nhất là chức Phó Chủ tịch Quốc Hội, phụ trách Đối ngoại”,”Không được đâu ông ơi, lá số tử vi nói tớ không bao giờ lên nổi chức Thượng thư mà!“, anh trả lời tôi và cười ngất.

Tôi cũng thường có những dự báo hoặc tiên đoán kiểu Trạng Lợn khá chính xác. Hồi ở XNLDDK Việt Xô, một lần tôi nói với Dung làm cùng phòng trữ lượng NIPI, em dâu của Nguyễn Chí Thành:” Nếu anh không lầm, hiện nay họ hàng nhà em có ít nhất là 36,5 người ở Vũng Tàu!”. Thị Dung bấm đốt ngón tay một lát rồi tái mặt: “Sao anh biết chính xác thế ? Đúng! chị Thu đang có bầu” ( Thu là vợ Chí Thành). Một lần khác, 6 thằng đi họp ở Tokyo. Tới sân bay, chuẩn bị tới chỗ lấy hành lý, tôi nói với Vũ Ngọc An:“Tao vừa nghe thấy bọn hàng không nó nói hành lý của mày bị thất lạc đấy”. “ Phét! Mà mất tao càng sướng vì được bồi thường có khi gấp mấy lần!”, An cười ngất. Thế mà cuối cùng An không có hành lý thật! Đến nỗi ngày hôm sau tôi phải đưa thằng bạn cái áo sơ mi để mặc tạm đi họp. May mà mấy ngày sau, vali của An cuối cùng cũng đến. Nghĩ tới chuyện này tôi lại nhớ Đặng Sinh. Hắn thường bái phục và hãi tôi dự báo lắm. Nhưng đấy là những dự báo mang tính “ngoại cảm”, ăn may, không lý giải được. Còn những dự báo mang tính “khoa học” của tôi thì lại khác. Từ hồi ở Chơ Gạo Hưng Yên, khi thấy Ngô Xuân Nạnh khai Lý lịch, trong phần Họ vả tên Bố, hắn ghi: Ngô Văn Tý, tôi quát: “Bố láo! Sao bố mày là Tỵ mà mày lại khai là Tý hả?”. Thằng cha kinh hãi: “Sao anh biết tên Bố tôi?”. Lần khác gặp Nguyễn Văn Miều lên Tổng Cục, tôi hỏi:” Cụ Mỹ hồi này có khỏe không anh?”.”Ủa! Sao mày biết tên bố tao?”. Và cứ thế, những cặp tên oái oăm như Tỵ- Nạnh; Mỹ- Miều; Vực-Lũng, Bích-Báo, Dinh-Dịnh, Kén-Chọn v.v cứ lần lượt được giải mã. Chẳng thế mà có lần vào chấm thi tại Đại học Mỏ-Địa chất, sau khi đoán được sinh viên Thơ là con gái của mẹ Lơ ở Viện Dầu khí, “Giáo sư” Đắc đã reo lên:”Lơ-Thơ! Đúng lý thuyết của ông Thắng!”. Nhưng cũng có lần bị sai, nói chính xác là “xuýt nữa bị sai”. Đấy là sau lần đọc thông báo “Cụ Nguyễn Thị Chén, mẹ đồng chí Lý Hạnh và là mẹ vợ của đồng chí Đỗ Văn Giang, do tuổi cao bện nặng đã từ trần…”, trên đường đi xe tuyến từ cơ quan về Cầu Giấy tôi có hỏi: “ Hạnh ơi, ông ngoại em tên là Ấm phải không?”, “ Không anh ạ. À.. à, đúng ..đúng! Nhưng ông em tên là Khay”. Khay-Chén! Hóa ra vẫn tuân theo quy luật!

7. TRỞ VỀ PETROVIETNAM

Đầu năm 1992, tôi về lại chốn cũ, bạn xưa.Tôi đã nhanh chóng hòa nhập và thích ứng ngay với công việc của mình. Tôi được giao phụ trách trữ lượng, công tác nghiên cứu khoa học, đào tạo TTS và NCS, theo dõi việc thực thi Chương trình Công tác và Ngân sách hàng năm của các Nhà thầu Petronas Carigali, JVPC, UNOCAL, Fina, MJC rồi phụ trách Tổ Thăm dò khu vực Bể Cửu Long và TLĐ Tây Nam Việt Nam mà anh em quý mến quen gọi đùa là Cửu Long Vương. Tôi, Đỗ Văn Đạo và Đào quang An là “Vương” ở hai vùng khác, tạo thành thế “chân vạc” vững chắc một thời .Hồi ấy vẫn còn cả “dân Hóa” như Phạm Hồng Vân, Nguyễn Phương Hải, Ngô Dương Hùng và Tưởng Bích Hà. Những đợt cử người sang Rumani hàng loạt từ những năm đầu 70 thực tập tại nhà máy Lọc Hóa dầu như Nguyễn Khải, Hữu Lạp, Minh Thư, Thị Dậu…đã ly tán hoặc đổi nghề hết sạch vì chẳng thể chờ. Mấy nhân vật “non E&P” phần nào cũng mang lại niềm hưng phấn làm việc, nhất là ” Sức khỏe kế” Tưởng Bích Hà. Thị vốn học Hóa ở Đức, về Viện Dầu Khí Hưng Yên, rồi Vụ HTQT, lấy chồng, chuyển sang Vụ Kỹ Thuật từ hồi 1989 sau khi làm Tiến sỹ từ Đức trở về. Hà là cháu ngoại của cụ Tôn. Xinh đẹp, hát hay, tính tình phóng khoáng, rất nể chồng và lại không hề kiểu cách như lũ con ông cháu cha khác. Tôi bảo: “Mỗi lần trông thấy em, trong người bừng bừng khí thế là bọn anh mừng cho sức khỏe hãy còn chứ tịnh không có ý đồ gì ám muội. Yên tâm!”. Thị cười toét, “no objection” khi được mệnh danh là cái “thiết bị đo sức khỏe” ấy. Nhưng liền sau đó tôi đã phải oang oang thú thật với Phạm Việt Dũng: ”Mà cũng không được ám muội thật, chứ lơ tơ mơ thằng Lân chồng nó biết, tương cho hòn gạch vào sau gáy có mà toi đời!”. Cả lũ cùng cười. Tôi quý Hà phần vì anh em nói chuyện hợp gu, phần vì “mang ơn cứu mạng” của ông ngoại Hà. Số là dịp ấy Hà Tây chuẩn bị khánh thành nhà hát Nguyễn Trãi hoành tráng, kề vườn hoa Thị xã Hà Đông . Bố vợ tôi thuộc vào hàng chức sắc ở đó cũng có được 4 vé mời ( nhằm cho ông cụ, vợ chồng tôi và thằng em vợ) tham dự tối khai mạc trọng thể và liên hoan tưng bừng ấy. Không ngờ đúng ngày giờ ấy thì cả Thị xã nghe thấy tiếng “Rầm!”, toàn bộ phần mái khổng lồ ấy đổ sập xuống. Chắc chắn sẽ có bao nhiêu người chết hoặc tàn phế trong đó có cả bốn bố con tôi, nếu đêm khai mạc ấy không bị hoãn lại do sự ra đi của ông ngoại Hà và lễ quốc tang của Chủ tịch nước Tôn Đức Thắng. Tôi chẳng rõ nguyên nhân là do sai sót trong thiết kế, ăn bớt vật liệu khi xây dựng hay lại là do “khách quan”chỉ có trời mới biết. Phạm Việt Dũng là kỹ sư trắc địa ở Leningrad, Liên xô. Tôi quý hắn không phải chỉ vì hắn đồng hương, là cháu ngọai của cụ Bùi Bằng Đoàn mà còn bởi hắn là thằng rất hiền lành và tử tế. Nó đã lọt vào mắt xanh và “tầm ngắm đào tạo” của tôi ngay khi mới trở về. Chả thế mà trong Đại hội Tổ Công Đoàn lần sau , tôi đã truyền ngay “ngôi báu” thủ lĩnh cho hắn và tự mình rút lui để nghỉ ngơi “vì lý do sức khỏe”. Và từ đó hắn không phụ lòng tin ấy , đảm trách xuất sắc phần việc và được tất cả mọi người yêu mến.

Hồi đó người ta nói Tiến sĩ Trần Cảnh và Văn Đắc như một cặp bài trùng. Hầu như hết thảy công việc của phòng KHKT (và từ năm 1993 là Phòng TDKT) đều một tay Văn Đắc lo liệu cả để Tiến sĩ Cảnh rảnh tay, có thời gian mưu đồ việc lớn. Văn Đắc là người hết lòng vì công việc, nhiều lúc tới mức ôm đồm, tả xung hữu đột, không cần người trợ thủ. Còn tôi, ngoài phần việc của mình, tôi luôn được Tiến sĩ Trần gọi giúp rà soát, sửa chữa lại nội dung các công văn sắp gửi, các tổng hợp trữ lượng và tiềm năng , kế hoạch và phương hướng, các nhận định và kết luận mà sếp chưa thật an tâm trước khi đặt bút ký cho dù đã có ruồi muỗi đậu đầy. Anh là người rất cẩn trọng trong văn bản. Tôi sẵn lòng giúp anh. Nhưng cũng chẳng vì thế để tự hào, bởi đơn giản tôi coi đó là việc nghĩa và trách nhiệm. Bên Khai thác có Nguyễn Trọng Hạnh cũng ráo riết không kém. Khi Hạnh chuyển sang làm trưởng phòng Thẩm Định thì Nguyễn Văn Minh thay thế. Một đội ngũ gồm những gương mặt như Nguyễn Đình Khuông, Đỗ Văn Đạo, Đào Quang An, Dương Đăng Thú, Bùi Ngọc Quảng, Phạm Việt Dũng, Trần Đức Chính, Đỗ Văn Hinh, Nguyễn Trấn Phòng, Nguyễn Minh Thu, Ngô Việt Nga, Trần Mạnh Cường ( Thăm dò); Vũ Văn Viện, Phan Ngọc Trung, Nguyễn Ngọc Hoàn, Cù Xuân Bảo ( Khai thác), Đinh Hữu Kháng, Nguyễn Văn Toàn, Bùi Văn Tính (Khoan) đã làm nên diện mạo phòng TDKT. Hồi ấy người ta hay thích nhắc tời Cảnh-Toàn-Phòng-Thu-Thú, Toàn-Phòng-Đắc-Thắng, chứ nghe tới Cảnh-Toàn-Phòng-Thú-Tính thì ai cũng ngán. Có lẽ một phấn vì lẽ ấy, ít lâu sau Bùi văn Tính phải ra đi, vào mãi tận Vũng Tàu(?!).

Hợp đồng PSC giữa Petronas và PetroVietnam tại lô 01-02 được ký vào năm 1991. George Paul là TGĐ đầu tiên của Petronas Carigali Việt nam hồi ấy . Dưới ông là cả một dàn kỹ thuật Mã-Việt nhiệt tình như John Peck, Richard Koe, Lai Hoi Kien, K.C.Sing, Chandramohan , Rosli Hamza, Nguyễn Huy Ngọc, Vũ Văn Nghiêm, Vũ Trọng Hải…Tôi luôn được coi là khách đặc biệt. George Paul dặn Lễ tân « Hễ ông Thắng tới, không được hỏi, mời ngay ông ấy lên phòng tôi. Cô nhớ chưa? ». Ông với tôi cùng trang lứa. Trong suốt thời gian công tác, chúng tôi đã quan hệ với nhau như những người anh em, chân tình và đầy trách nhiệm. Còn đám kỹ thuật thì khỏi phải bàn. Chúng khoái tôi và thường gọi tôi bằng biệt danh « Mr.Golden Tongue » mặc dù tôi vô cùng ít nói. Đây là Hợp đồng ra nước ngoài đầu tiên của Petronas Carigali nên sau khi khoan 2 giếng đầu Jade-1X và Saphire-1X không đạt kết quả, George Paul rất lo lắng. Bởi thế khi gặp ông vào lúc đang thử vỉa Giếng Ruby-1X (tháng 8/1994), tôi đã thấy ông hồi hộp như thế nào và sự mừng vui tột đỉnh ra sao vào sáng hôm sau khi ngọn lửa dầu phun lên từ giếng thứ 3 này. Những người lính tiên phong trong lần xuất quân đầu tiên ấy về sau đã là những cốt cán trong các hợp đồng ở nước ngoài của Petronas.

Tôi vào Fina tham gia minh giải tài liệu lô 46, 50, 51 thì gặp Nguyễn Du Hưng. Hết giờ làm việc, cả bọn kéo nhau ra quán cóc gần đó ăn trưa. Đó là lần đầu tiên anh em gặp nhau. Hắn cứ nhìn tôi như một gã thợ săn ngắm nghía con mồi, rồi đột nhiên tủm tỉm : «  Em nghe danh bác từ lâu lắm rồi mà nay mới được gặp. Đúng là Thắng-Đầu-To như lời đồn của thiên hạ ! ». Với cái mở đầu như thế và khả năng chiếm lĩnh của tôi, lại thêm cái thú văn chương, ngay lập tức cả hai đã tỏ ra tâm đầu ý hợp. Hồi ấy quan hệ giữa Fina và PV rất tốt khiến cho tôi khinh suất.Số là khi Michael Best sang thay TGĐ Henri Piere, có một lần tôi nhờ Mỹ Hạnh , vợ Hưng hoàn chỉnh cho PV bản đồ Hoạt động thăm dò dầu khí tại Tlđ Việt nam và in màu giúp. Tôi nghĩ bản đồ này sau này cả PV, Fina và các Nhà thầu sẽ dùng chung, có gì đâu. Ai dè trong lúc Hạnh làm việc thì Best tới. Hắn nhìn thấy và hỏi. Hạnh thật thà báo cáo. Ai ngờ sau đó Hạnh không được làm ở Fina nữa trong lúc cô ấy đang mang thai. Tôi ân hận và tức giận vô cùng và gặp Best nói cho hắn biết về cái hành động phi nhân tính, vi phạm luật lao động và vỗ mặt chủ nhà ấy. Nhân có một lần cùng Sếp tiếp Phó chủ tịch của Fina ở Bruxel sang thăm PV, tôi đã kể chuyện này. Ông Phó Chủ tịch xin lỗi và hứa sẽ xem xét. Vài ngày sau , Michael Best bị điều khỏi Fina Vietnam. Sau này nghe mọi người kể lại, thằng này thần kinh thật, đi đường luôn cầm đá trong tay và thỉnh thoảng hắn quay lại ném về phía sau vì nghi có người theo dõi. Còn nhớ dịp làm Brochure « PETROVIETNAM Exploration& Production, Chalenges and Oportunities» để phục vụ chương trình quảng bá lần đầu tiên tại Stavanger, Na-Uy, Tôi phải lo toàn bộ phần nội dung, kể cả việc chuyển sang tiếng Anh. Còn bản vẽ minh họa đi kèm, nhờ chú em Trịnh Xuân Cường giúp tôi can vẽ bằng mực tus rồi dùng bút chì màu thấm nước bọt mà tô , sau đó gửi tới Nhà in để in thành 1000 bản, chứ làm gì có máy in màu. . Rồi lên đường. Rủi ro thay, lần ấy mấy thùng tài liệu gửi đi bị thất lạc. May mà tôi còn mang theo vài quyển nên nhờ phía Na-Uy giúp đỡ. Cuốn tài liệu được quét và in “xoạch” một cái thành 1000 bản khác. Ngày hôm sau, ai ngờ mấy thùng “bảo bối” kia lại tới. Thành ra đáng lẽ chỉ có 1 nghin bản, PV đã có số lượng gấp 2 lần để quảng bá hình ảnh và tiềm năng dầu khí tại WPC ( World Petroleum Congress) cho toàn thế giới.

Tại thềm lục địa Tây nam, UNOCAL cũng là một nhà thầu đáng nhớ. Ngay từ khi đàm phán Hợp đồng, Cam kết Công việc đã làm mọi người kinh ngạc: 10 giếng khoan trong Giai đoạn I Thăm dò. Nhưng Cam kết Tài chính tối thiểu còn gây ngạc nhiên và tranh cãi hơn nhiều: 10 giếng, 20 triệu USD? Tôi đã chất vấn do không tin được. Bởi thông thường hồi ấy, cam kết tối thiểu cho mỗi giếng phải là 8 triệu USD, làm sao có thể thế được? Có một anh chàng dáng thư sinh ngồi đàm phán nói rất nhẹ nhàng: “ Các anh sẽ thấy thôi”. Người ấy là Frederik Sheferd, sau này là TGĐ của UNOCAL Vietnam. Khi khai trương văn phòng, anh tiếp tôi rất niềm nở. “ Tôi rất vui vì được cử làm TGĐ của Unocal Vietnam. Đối với tôi, tìm ra dầu khí là điều quan trọng, nhưng quan trọng hơn là xây dựng được mối quan hệ tốt với PV, với nước chủ nhà. Tôi rất muốn nhờ các anh giúp”. Tôi biết lời nói đó không hề khách khí. Fred là một TGĐ tốt, hiền lành, không bao giờ uống rượu bia, biết quan tâm tới mọi người và được cấp dưới rất qúy mến. Anh có vợ là người Thái và bốn đứa con.Trong các cuộc họp MCM hay TCM, chị Phensri (hơn chồng một tuổi) thường làm công tác hậu cần, lúc nào cũng oang oang và xăng xái làm ai cũng cảm động và quý mến. UNOCAL Khoan không thành công giếng đầu tiên Kim Quy-1x . Tuy nhiên các giếng tiếp theo hầu hết đều thắng lợi. Các mỏ khí Kim Long, Ác Quỷ được phát hiện. Giá thành các giếng khoan tuy không phải là 2 triệu USD nhưng cũng chỉ khoảng 2,4 -2,6 triệu. Fred nói với tôi, các giếng khoan phát triển sau này sẽ có giá 0,9 triệu USD. Ở Thái lan, họ chỉ cần 0,7 triệu do điều kiện logistic tốt hơn.Một kỷ lục về khoan Nhanh và Rẻ mà chưa công ty nào có được! Tôi gặp Giám đốc khoan của UNOCAL. Đó là Dave Pain, một anh chàng lanh lợi, đầy râu ria nhưng có tài hùng biện và cách diễn thuyết như một nhà văn. Tôi bị thu phục bởi “SX Strategy” mà anh trình bày. “Với cùng kinh phí, anh sẽ phải lựa chọn giữa việc khoan 1 giếng với 100% lượng thông tin hay khoan 3 giếng, mà mỗi giếng chỉ cung cấp được 80% lượng thông tin đó. Khoan thật nhiều và giá thật rẻ. Tất cả mọi người trên Giàn, từ Địa chất tới Giám sát khoan phải là một team, có chung một mục tiêu, một hành động”. Tôi mê ly và gạ Fred giúp PV đào tạo cán bộ về lĩnh vực khoan. Fred nhận lời, nhưng chỉ được một xuất. Nguyễn Xuân Cường được gửi sang UNOCAL vào dịp đó. Sau này Nguyễn Văn Toàn sang UNOCAL Thái lan tham quan, giật mình kể “chỉ 3-4 ngày nó đã khoan xong 1 giếng trên 3000m rồi bác ạ”. Forum lần thứ nhất về Thăm dò Bể Cửu Long năm 2001, tôi đã gạ Fred cho Dave tới trình bày tham luận về khoan. Tôi luôn coi Khoan là một trong 2 yếu tố quyết định thành công ( Khoan và Chất lượng tài liệu địa chấn) Qúy bạn và nể lời của “Ủy viên Ủy ban Quản Lý”, Fred đã đồng ý,” Nhưng chỉ nói khoảng 30 phút thôi Thắng nhé”. Dave cũng thế, nên anh đã rất nhiệt tình trong Forum lần ấy. Sau này Trang, nhân viên cũ của UNOCAL kể với tôi:” Thằng Dave bây giờ to lắm anh ơi, nó làm tới chức Vice President của Chevron Global rồi đấy”. Còn Fred, sau hồi Chevron mua lại UNOCAL, Jon Pamigianno sang thay. Tôi rất tiếc phải chia tay Fred. Anh về Thai lan quê vợ, nghe đâu làm cố vấn cho PTT hay PTTEP gì đó…

Tôi được giao theo dõi và giám sát hợp đồng lô 05-2, bể Nam Côn Sơn của MJC ( Mobil-Japan Co.).TGĐ William Daken với bà vợ Susan của ông là những người khá lịch thiệp. Hai ông bà không có con. Bà Susan theo dạy lớp tiếng Anh cho đám trẻ. Có lần ngồi ăn tối, bà nhận xét vui:”Tôi thấy người Việt nam thực tế hơn so với người Nhật. Người Nhật thường dùng đũa gắp thức ăn từ bát đặt dưới bàn, rất dễ rơi vãi, trong khi người Việt nam đưa bát kề sát miệng mà và cơm vào. Chẳng bao giờ rơi vãi cả!”. Tiến sỹ Lê Ngọc Quang, Việt kiều tại Mỹ, hồi đó là trưởng đại diện của Mobil Vietnam cũng là người rất hăng hái, nhiệt tình.Tôi và Nguyễn Quang Bô (khi ấy đã vào PV-2) đã từng có một tháng công cán tại Mỹ. Ngoài việc xem xét và minh giải tài liệu, trao đổi về vị trí giếng khoan tại trụ sở Mobil Operation, tới cả hiện trường nơi tổng thống Kenedy bị ám sát, vào thăm Medival Time ở Dallas nhận “tấn phong hiệp sỹ”, được các “nô tỳ” kính cẩn mời những món ăn ngon, xem các dũng tướng thời La mã cổ trên những con tuấn mã giao đấu; Đã ngồi Air Taxi bay là là cánh mặt đất vài trăm mét khảo sát tuyến đường ống và chạy tàu thủy dọc ngang trên hồ Muray, Oklahoma. Chúng tôi đã bay từ Houston tới Louissiana rồi thuê xe chạy qua chiếc cầu dài nhất thế giới cắt qua Vịnh Mexico về Olabama tham quan Mỏ khí Mary Ann chứa tới 8% lưu huỳnh.Tôi tò mỏ hỏi và được biết Mary Ann Gas Field được đặt theo tên vợ của Chủ tịch Mobil hồi ấy. Hóa ra ỡ Mỹ nó cũng biết nịnh sếp ra phết. tôi nhớ mình đã hỏi:”Thế nhỡ khoan khô thì sao?”, “Yên tâm đi, khi biết chắc thành Mỏ rồi chúng tôi mới dám đặt chứ”. Trực thăng đưa chúng tôi ra tham quan mỏ Green Canyon, giữa Vịnh Mexico… một chuyến đi gấp gáp song cũng rút ra được nhiều bài học thú vị. Bạn tiếp đón quá tử tế khiến chúng tôi vừa cảm động vừa tần ngần mà ngại nói. Cấu tạo Thanh Long rất lớn nhưng nó chịu rủi ro chung như những cấu tạo khác ở bể Nam Côn Sơn hay Bể Sông Hồng, đó là Timing. Thời gian hình thành cấu tạo và tích tụ dầu khí không thuận lợi do hoạt động nghịch đảo và cắt cụt mạnh mẽ cuối thời Miocene. Về sau, MJC đã khoan 2 giếng không thành công, chỉ phát hiện một tập mỏng cát kết chứa sản phâm ở nóc Miocene do không có tầng chắn với chi phí kỷ lục hồi đó: gàn 100 triệu USD do dị thường áp suất và nhiệt độ cao ở độ sâu dưới 2500m.

Năm 1992, Mitsubishi Oil ký Hợp đồng với PV tại lô 15-2. Tano, người từng đạp xe xuyên Việt là TGĐ đầu tiên của Công ty Dầu khí Nhật Việt JVPC ấy. Ông Sato là Chủ tịch UBQL. Tôi cũng là một trong 3 Ủy viên phía Việt nam đầu tiên của UBQL Hợp đồng ấy. Những gương mặt phong sương đầy nghiêm túc trong những cuộc họp MCM, thái độ vui vẻ trong những bữa tiệc cùng các ông Sato, Tano, Kobayashi, Ichikawa, Fukuoka, Ida..và những buổi tranh luận hăng say cùng GĐ Thăm dò Onogi, KS trưởng Địa chất Wada, Ks trưởng ĐVL Shiomoto trên những bản đồ, lát cắt như vừa mới ngày nào. Tôi vẫn còn giữ bộ ấm chén uống rượu do Tano San tặng cho những « Sake’s Lovers ». Tháng 7/1994 JVPC phát hiện dầu trong Móng granit nứt nẻ ngay tại Giếng khoan đầu tiên RĐ-1X. Giếng RĐ-2X khoan tới độ sâu trên 4000m cũng thành công vang dội. Khi Tano về, ai cũng đoán là Onogi, GĐ Thăm Dò sẽ thay vì có công đầu ma chẳng ai nghĩ Ida, GĐ Khoan sẽ thành TGĐ. Hóa ra thâm niên vẫn được người Nhật coi trọng. Hôm sang họp ở Tokyo , Onogy dẫn GĐ Thăm Dò mới ra giới thiệu bằng tiếng Việt : «Đây là chú Hashimoto, sắp tới sang Việt Nam thay em làm giám đốc Thăm Dò. Em nhờ bác giúp đỡ chú nó». Lần đầu tiên tôi gặp Hashimoto (hiện là TGĐ JVPC) như thế. Môt gã đẹp trai để ria mép, hiền lành. Giống như Onogy, hắn có sức làm việc ghê gớm, có khả năng thức trắng đêm để chuẩn bị tài liệu mỗi khi họp TCM hay MCM.

Ngày 2/5/1995, một sự kiện đau lòng với toàn phòng TDKT cũng như toàn giới thăm dò: Anh Nguyễn Đình Khuông đột ngột ra đi vào tuổi 57. Hôm ấy đáng lẽ tôi chuẩn bị có xe đón đi công tác miền Nam thì có điện thoại của anh Đắc:” Này ông biết tin gì chưa ? bác Khuông mất rồi”.”Sao? em vừa ngồi chuyện trò với bác cả chiều hôm qua mà?”, “ Thôi ông hoãn chuyến công tác đi, viết ngay giúp tôi lời điếu. Tôi lo báo anh em và giải quyết một số thủ tục tí nữa tôi vào”. Tôi bàng hoàng. Hai vợ chồng chạy vào khu tập thể mới biết bác đã được đưa vào Viện E. Ngồi viết Điếu văn mà đầm đìa nước mắt. Một con người cương trực, hết lòng với công việc và anh em, luôn bất bình trước những điều thị phi ngang trái đã ra đi như thế. Trong lễ truy điệu, khi nghe anh Đắc đọc điếu văn, nhiều người đã khóc. Anh Đỗ Ngọc Ngạn thầm thì nói với mấy người đứng cạnh: “Sau này hai năm mươi, mình chỉ ước được cha Đắc đến đọc điếu văn thôi”. Có một lần họp ở XNLD VSP xong tôi lên Tp HCM thăm một vài đơn vị. Hôm ấy vừa xong việc với Unocal bước ra khỏi Metropolitan, tôi nhận được một tin dữ: Nguyễn Trọng Hạnh đã đột tử ngay trong phòng họp số 4 của PetroVietnam ở 22 Ngô Quyền khi sắp kết thúc đàm phán với BP về đường ống dẫn Khí Nam Côn Sơn. Người Trưởng phòng Khí ấy, phòng họp số 4 của PetroVietnam ở 22 Ngô Quyền khi sắp kết thúc đàm phán với BP về đường ống dẫn Khí Nam Côn Sơn.Người Trưởng phòng Khí ấy, nguyên Phó Phòng KHKT, nguyên trưởng phòng Thẩm Định ra đi khi chưa đầy 50 tuổi. Thái độ làm việc hết mình của anh và của nhiều người khác nữa có một thời như thế.

Tháng 9/1995, ngành dầu khí kỷ niệm 20 năm ngày thành lập TCDK. Tôi vẫn nhớ những gương mặt già nua của những bậc tiền bối trên đường tới Bảo tàng Hồ Chí Minh dự Lễ Kỷ niệm và trao huy hiệu “Vì sự nghiệp Dầu Khí” hân hoan biết nhường nào. Tiếc sao người tổ chức chẳng để ra 1 phút mặc niệm để tưởng nhớ những bậc tiền bối mà trong ngày vui hôm nay không còn nữa? Sao chẳng thể mời tất cả các bậc lão thành kia lên sân khấu mà gắn huy chương, tặng quà cùng những lời tri ân mà chỉ mời 4 đại diện Công-Thanh-Chính- Đảng lên trao đại diện, còn số huy hiệu kia, các đơn vị “gánh về” tự phân chia? Người ta sao nỡ vội quên nhanh quá khứ ?! Tôi đem cái phàn nàn ấy nói với một số người. Hình như cũng có người nghe thấy, bời tôi thấy lần sau, cách tổ chức có ít nhiều thay đổi.

Sau việc phát hiện mỏ Rạng Đông của JVPC (7/1994 ) và mỏ Ruby của Petronas Carigali (8/1994), Hợp đồng lô 15-1 “xuýt” định ký với Vanguard ( một công ty Việt kiều Mỹ do Lê Phượng Vỹ làm giám đốc) vì thế được hoãn lại để đấu thầu quốc tế. Tổ hợp Conoco-KNOC-SK-Geopetrol đã thắng thầu. Liên doanh Điều hành chung Cửu Long ( CLJOC) được thành lập, trong đó PVEP chiếm 50%, Tổ hợp Conoco- Hàn Quốc chiếm 50% còn lại. Phía nước ngòai sẽ gánh toàn bộ chi phí và rủi ro trong Giai đoạn 1 Thăm Dò. Các lô xung quanh Bạch Hổ 16-1, 16-2 , 09-2 , 09-3 của bể Cửu Long cũng trở nên đầy hấp dẫn. Hàng loạt các tên tuổi lớn như Esso, Mobil, Amoco, Chevron, Conoco, Texaco v.v đã vào xem tài liệu và tham gia đấu thầu. Nhưng cuối cùng phần thắng lại về tay SOCO, một công ty ít người biết tới. Sự ra đời của hai JOC Hoàng Long và Hoàn Vũ cũng vào thời kỳ đó. SOCO là một công ty nhỏ nhưng rất nhanh nhạy trong quan hệ đối ngoại. Đội ngũ kỹ thuật của họ khá mỏng, phải thuê. Có trường hợp 2 cán bộ ĐC-ĐVL chính của SOCO không đủ trình độ bị PV yêu cầu thay. Sau đó có lần SPE Viêt nam tổ chưc Hội thảo, người được mời thuyết trình hóa ra lại chính là anh chàng Gary Leaf vừa bị thay kia. Sau trưởng SPE biết được chuyện này vội hoãn liền. Làm chính nghề đã kém, nhưng nghe đâu, đã có lần anh chàng lại còn khai chức danh trong CV là Drilling Superintendent ( Tổng điều hành thi công Khoan) và đã làm ba tháng trời cho một công ty nọ của ta ( !). Đó cũng là một bài học. Tôi còn nhớ Peter Merci (anh trai của Dan Merci) làm giám đốc khoan, nhưng mỗi lần gặp những vấn đề hóc búa cần có những quyết định, anh ta đều tìm cách lẩn tránh và phó mặc cho Drilling Superintendent. Nghe nói ở nước ngoài có những bọn chuyên được thuê làm CV. Chỉ cần vài dữ kiện cá nhân và xem những yêu cầu của Công ty là có ngay một CV đọc « sướng tai » liền. Tây có nhiều người giỏi nhưng cũng không thiếu kẻ lười biếng và trí trá như vậy.Trong nhiệm kỳ công tác, tôi rất hài lòng về những chức danh cao cấp thuê tuyển nhưng cũng đã từng buộc lòng phải cắt hợp đồng do không đáp ứng được yêu cầu chuyên môn hoặc đuổi do ý thức chấp hành kỷ luật kém, có thái độ thiếu tôn trọng đối với người Việt nam . Cà hai đều là chức danh cao cấp về khoan Drilling Superintendent .

Tại Lô 15-2, sau khi khoan hai giếng RD-1X và RD-2X thành công, JVPC đã khoan năm giếng khoan thẳng đứng tiếp theo RĐ-3X, 4X, 5X, 6X, 7X và đều cho kết quả kém. Đó là những năm giữa thập niên 90, giá dầu gỉam thảm hại do cuộc khủng hoảng ở Trung Đông. Conoco khi ấy là cổ đông lớn ở Cửu Long JOC và cũng đã mua thêm một tỷ phần lớn của JVPC. Phía PVEP cũng đã bỏ qua cơ hội mua thêm 9% tài sản mà JVPC bán lại do những thông số đầu vào được đánh giá không chính xác. Cơ hội đã tuột mất và lọt nốt vào tay Conoco. Tiến sỹ William Schmidt, Giám đốc thăm Dò của Conoco được cử xuống làm Phó TGĐ của JVPC. Tôi quen Bill từ lần tiên anh dự họp UB Kỹ thuật của CLJOC. Lần đấy trong khi say sưa trao đổi với các cán bộ kỹ thuật của Conoco, KNOC, SK, Geopetrol và Việt nam, tôi thấy có một anh chàng tây ra sức ghi chép. Trong giờ giải lao, anh ra bắt tay tôi và tự giới thiệu : «  Bill, Bill Schmidt, Tiến sỹ địa chất của Conoco. Tôi rất thích bài phát biểu của anh». Chúng tôi quen nhau như thế và không ngờ rằng một tình bạn bền chặt cứ thế kéo dài mãi về sau. Bill kém tôi 3 tuổi nhưng chưa vợ. Mấy gã đẹp trai kiểu Bill hay Chris Slaydon của BP, đam mê chuyên môn quá thường quên lấy vợ. Bill say sưa tìm hiểu Lích sử Việt nam và săn ảnh. «  Tôi rất khâm phục Trần Hưng Đạo. Tư tưởng của ông có từ trên 700 năm trước thế mà bây giờ vẫn còn nguyên giá trị. Tôi nghĩ nếu tổng thống của chúng tôi tìm hiểu kỹ lịch sử Việt nam, chắc sẽ không có cuộc chiên tranh vừa rồi ». Anh có thú chụp ảnh. Chụp trắng đen. Một số ảnh minh họa cho các tập thơ của tôi lấy từ những khoảnh khắc xuất thần của anh. Sau này trong những lần tuyển nhân viên của LSJOC, Bill đều rất nhiệt tình phỏng vấn tiếng Anh. Anh rất « xịn » và khách quan, cả về trình độ ngoại ngữ lẫn ý kiến nhận xét về con người. Thư ký đầu tiên khi tôi vào làm TGĐ của Lam Sơn JOC cũng được Bill phỏng vấn tiếng Anh kèm những lời góp ý rất hay. Sau này, tôi đã rất hài lòng về khả năng và tinh thần trách nhiệm trong công việc của cô nhân viên ấy. Còn về chuyên môn, có lẽ hiếm thấy có người nào say mê và nghiêm túc trong công việc hơn thế. Anh cũng như tôi, cả hai kẻ đều rất say sưa về Móng. Những vị trí giếng khoan đầu tiên của CLJOC trên cấu tạo Sư tử Đen, hàng loạt giếng khoan xiên thành công như RĐ-8X, 10X, 11X, 12X đều mang dấu ấn của tư duy mới của Bill và tôi. Bill nhớ lại : « Đó là thời kỳ đầy hứng khởi và trách nhiệm. Các cuộc họp đều có sụ phân tích, đánh giá và đồng thuận cao giữa các cán bộ kỹ thuật các phía ». Tuy nhiên vẫn có một lần tôi bị « cô lập hoàn toàn ». Đó là trường hợp Giếng khoan thăm dò đầu tiên SV-1X trên cấu tạo Sư tử Vàng. Khi ấy tất cả mọi người cả phía nước ngoài lẫn Việt nam trong Hội nghị đều thống nhất về đối tượng và độ sâu cuối cùng TD- 3400m. Chỉ mình tôi là có ý kiến trái chiều :TD-4000m. Tôi dùng lập luận và tài liệu mới nhất đang có để thuyết phục mọi người và cuối cùng tôi đã đạt được mục đích. Một thỏa hiệp : «Khoan tới TD-3700m, ranh giới 2P mà ông Thắng trình bày ». Tôi « cài » thêm : « Trong trường hợp còn biểu hiện dầu khí, giếng khoan sẽ khoan tiếp tới 4000m, thậm chí sâu hơn cho tới khi hết biểu hiện này ».Tất cả đồng ý.Và khoan. Cho tới 3400m đầu hầu như không có biểu hiện gì đáng kể. Tới 3500m vẫn vậy. Nhưng từ 3531m đến 3583m, giếng khoan bị mất dung dịch hoàn toàn (total loss) và không thể tiếp tục khoan. Kết quả thử vỉa vang dội : 11.400 thùng/ngày !!.Hôm ấy là Thứ Bảy, 20/10/2001, khi chúng tôi đang tới thăm nhà một anh bạn ở Vũng Tàu thì bỗng nghe phía sau một giọng nói líu ríu, hân hoan báo tin cho sếp :«Báo cáo anh Nhậm, tin vui ! tin vui ! Giếng khoan đầu tiên trên cấu tạo Sư tử Vàng đã thành công vang dội. Kết quả thử vỉa cực kỳ lớn :11.400 thùng/ngày. Anh biết không, tiên sư bọn nước ngoài, nó chỉ muốn khoan tới TD-3400m, chúng em phải chiến đấu bắt chúng khoan tới 4000m, mãi chúng nó mới chịu..». Tôi chỉ lặng yên, vì đã quen rồi. Ít lâu sau nhân nói về chuyện này, Bill hỏi tôi : «  Did PV recognize You? », “No. Recognition ? What for? I did it simply by my pleasure. Bill, forget it ”. Bill giơ hai tay lên trời rồi lắc đầu không nói..

Mãi sau này, Triển lãm quốc tế Dầu Khí có một lần được tổ chức ở Sài Gòn, tôi gặp Tiến sỹ Đỗ Bách, khi ấy còn là giám đốc PIDC, đang tiến tới. Trông thấy tôi anh liền hỏi: “Bác đã qua thăm gian hàng PIDC chưa? Anh Huy đã đưa quà biếu bác chưa?”.”Chưa”, tôi hồn nhiên đáp. Anh kéo tôi về phía Gian hàng và gọi nhân viên dúi cho một cái túi bên ( bên trong có một cái áo thể thao Wilson, in logo và tên của PIDC) sau đó cà hai lượn qua các gian hàng khác rồi rẽ về phía Cửu Long JOC, nơi có trưng một con Sư tử đen to tướng làm bằng than đá. Tiến sỹ Vũ Ngọc hồi đó mới rời PVEP sang làm TGĐ CLJOC rất vui nắm tay quan khách lắc lắc: “Cám ơn anh rất nhiều nhé. Các anh đi để lại cho chúng tôi cả một bầy sư tử”,” Anh cám ơn tôi làm gì mà hãy cám ơn anh Thắng đây này, một chiến sỹ kiên cường!”, Giám đốc PIDC hất hàm về phía tôi và nói. Đỗ Bách là người trung thực, sắc sảo và rất tâm huyết với công việc. Có lần hai anh em ngồi chung xe về tối, anh than phiền:” Bọn trẻ bây giờ nó đếch “máu” như thời anh em mình đâu bác ạ”. Tất nhiên mỗi thời mỗi khác, nhưng tôi hiểu đó là sự quan tâm về vấn đề nhân sự và sự sốt ruột của một trong những người lãnh đạo cao nhất của Ngành khi công việc ngày mỗi thêm nhiều. Có lẽ sự tâm huyết hết mình ấy đã làm anh chịu thiệt thòi phần nào trong đời sống riêng tư.

Ngày 29-5-1995, Chính phủ ban hành Nghị định số 37-CP về tổ chức Tổng công ty Dầu Khí Việt Nam và Quyết định số 330/TTg về việc thành lập Tổng công ty Dầu mỏ và Khí đốt Việt Nam có tên giao dịch quốc tế là Vietnam Oil and Gas Corporation, viết tắt là Petrovietnam. Cơ cấu tổ chức gồm Hội đồng Quản trị, Ban Kiểm soát; Tổng Giám đốc, Bộ máy giúp việc và các đơn vị thành viên Tổng công ty. Anh Hồ Tế, Bộ trưởng Bộ Tài chính làm Chủ tịch Hội đồng Quản trị. Anh Hồ Sỹ Thoảng làm PetroVietnam . Năm 1996, Anh Hồ Sỹ Thoảng chuyển sang làm Chủ tịch HĐQT. Anh Ngô Thường San, TGĐ Vietsovpetro ra làm Tổng Giám đốc PV. Tôi chơi vui vẻ với anh San thuở hàn vi, nhưng khi anh vinh hiển, tôi lại ít khi tiếp xúc. Tôi gần như “cắt” quan hệ với anh từ hồi ấy cho tới khi anh về hưu. Đôi khi cái đường đời có đôi phần trắc trở, cái câu chuyện anh mang một tảng đá nhặt dưới chân Kim Tự Tháp trong một chuyến đi, những am tường về lịch sử văn minh nhân loại, những cảm thụ văn chương và những lần lang thang khảo sát với nhau đã làm chúng tôi gần gũi.

Có một lần sang Hàn Quốc, sau MCM; Giáo sư Hàn và Tiến sĩ Kim cùng phía bạn có dẫn đoàn tham quan Seoul và “tổ hợp lọc hóa dầu lớn nhất thế giới” Ulsan. Xe băng qua hàng ngàn kilômet từ thủ đô tới thành phố ven biển phía đông nam, chỉ núi đồi và đồi núi. Xứ sở Kim chi nghèo tài nguyên và con người được khích lệ ý chí quật cường và lòng tự hào dân tộc không kém gì Nhật đã làm nên một Hàn Quốc bây giờ. Khi ngược xuôi bên sông giữa lòng Seoul, tôi chỉ tờ bản đồ thành phố có chữ “Han Gang” rồi hỏi người hướng dẫn viên du lịch: “HAN ở đây có nghĩa như HÀN trong Hankook ( Hàn Quốc) phải không anh?”.”Không phải”.”Hay giống như Lạnh? “( Hàn),”Không..”. Anh gãi tai chưa tìm ra được một chữ thích hợp để giải thích. “ Hay nó trùng với tên một Triều đại lớn ở Trung Hoa?”, tôi ám chỉ Triều Hán, vì chợt nhớ lại một thời Việt Nam mình thường gọi Seoul là Hán Thành. “Đúng ! Đúng”, anh ta vui mừng xác nhận. Thì ra Han Gang ở trên bản đồ là Hán Giang, Sông Hán chứ không phải Sông Hàn như báo chí, phim ảnh và bao phương tiện thông tin đại chúng của ta tới giờ vẫn nói: “Kỳ tích Sông Hàn”, “Quái vật trên Sông Hàn”, “Thành phố bên sông Hàn”…Tôi chợt nhận ra sự dễ dàng tới mức qua loa, đại khái, hời hợt của người mình trong cách dùng từ, trong cách dẫn liệu những thành ngữ, điển tích kể cả những chứng cứ lịch sử. Người ta sính nói chữ “Mã đáo thành công”,”Đức cao trọng vọng” mà không hiểu rằng cần phái nói chính xác là “Mã đáo -Công thành”, “Đức cao-Vọng trọng”. Người Trung Quốc có vốn liếng từ ít nên phải dùng đa nghĩa, ta lầm tưởng nên nhiều lúc cứ vu oan cho họ là “thâm”. Nhưng Cấu trúc câu Chủ -Vị của họ thì rất chặt: Ngựa về-Việc xong( Horse comes, Work done-Khi thấy ngựa về báo tin nghĩa là việc đã “ngon lành”,”thành công” rồi) chứ đâu tùy tiện “nửa tàu, nửa ta”như thế. Người ta nói về Việt nam có lịch sử 4000 năm, sau này có một quan chức cao cấp lại nói 3000 năm trên VTTH mà không đưa ra những chúng cứ lịch sử cần phải có. Cứ thấy người khác nói, nghe lõm bõm rồi nói theo, không cần biết ngọn nguồn và không cần kiểm chứng. Nhiều người không dùng chữ CAA (Commercial Arrangement Area) do bao công sức ngoại giao đàm phán cho Vùng chồng lấn giữa Lô 46 của Việt nam và Lô PM3 của Malaysia ( Vùng chồng lấn giữa Mã- Thái được gọi là JDA -Joint Development Area ) mà cứ thản nhiên gọi nó là Lô PM3, thậm chí Mỏ PM3 trong cả phát ngôn và văn bản mà không cần biết đó chỉ là tên phía Mã đặt cho Lô 3 thuộc Bán Đảo Malaysia ( PM:Penisula of Malaysia, để phân biệt với 2 khu vực khác là Sabah -SB và Sarawak-SK). Hồi ấy phía bạn đã có ba phát hiện dầu khí là Bunga Orkit, Bunga Pakma, Bunga Raya và Bunga Kekwa (Bunga tiếng Mã là Bó hoa). Tôi góp ý với vị “ngoại trưởng” của PV thời đó nên đặt cho các cấu tạo tiếp theo bằng tên Việt để thể hiện rõ chủ quyền vàphản ánh một vùng chồng lấn. “Chú chỉ hay quan tâm tới những vấn đề tiểu tiết”. Anh cười. Và cho tới giờ tất cả các tên Mỏ, tên Cấu tạo vẫn đều mang tên tiếng Mã như vậy.

Hồi trước ta đã liên doanh với Shell, đã quảng bá và đã có được một thương hiệu dầu nhờn nghe đã quen tai với người tiêu dùng: VIDAMO ( Việt nam Dầu Mỡ bôi trơn), đến khi người lãnh đạo cũ ra đi, người mới về bỏ luôn. Trên VTTH mỗi sáng một thời, người ta luôn thấy thương hiệu ĐAM PHÚ MỸ nổi tiếng và câu Slogan “Đạm Phú Mỹ-Cho mùa bội thu” nhẹ như làn gió mát. Rồi bỗng nhiên nó mất đi, và mãi sau người ta mới biết Đạm Phú Mỹ đã được đổi thành DPM. Chắc là có người khác đến?. Ngay cả cái thương hiệu PV dùng trên 30 năm, cả thế giới quen rồi, cũng được đổi thành PVN trong khoảnh khắc khiến cả người nước trong lẫn nước ngoài lẫn lộn. Tôi cũng chẳng biết đổi như thế cho giống kiểu EVN hay để “thổi thêm luồng sinh khí mới”. Để có một thương hiệu, một Logo làm nên một uy tín như của Shell, Mercedes, Toyota, Honda…người ta phải tốn bao thời gian , công sức và tiền bạc mới có. Shell đã tồn tại từ thế kỷ 19 nhưng tới giờ vẫn trung thành với cái tên và logo vỏ hến khi xưa, từ thuở xuôi ngược tới Nam Dương buôn bán Xà-cừ. Ngoại trừ Công ty danh tiếng Esso phải đổi thành Exxon tại thị trường nước Mỹ do có một công ty dầu bé con ngang ngược lấy trùng tên. Tôi nhìn những lớp móng Hoàng Thành qua bao triều đại, lớp mới đè lên lớp cũ, giờ chỉ còn hoang phế mà chạnh buồn. Sao người ta dễ quên đi hay cứ phải xóa đi Quá khứ? Lại nhớ những năm 60’ của thế kỷ trước, bao đền chùa, văn chỉ, bia đá bị đập phá, bao cây đa cây đề hàng mấy trăm năm bị chặt để “chống mê tín dị đoan”. Trong suốt 1000 năm Bắc thuộc, kẻ thù cũng đã làm những điều như thế mong tiêu diệt cả một nền văn hóa. Chỉ khác là ngày ấy chúng làm trực tiếp. Tôi rất thích những bài viết của Tiến sỹ, thiền sư Lê Mạnh Thát về những luận cứ lịch sử và văn hóa Phật giáo. Đó là những công trình nghiên cứu nghiêm túc và khoa học. Ông chứng minh Phật Ca và nhiều dẫn liệu trước đây nhầm tưởng là của Trung Quốc đều là của Việt Nam, ông cố khớp lại cả một thời kỳ dài mà các sách sử bỏ trống .Ông nhận thấy ngay cả những dẫn liệu của Lê Quý Đôn cho rằng có xuất xứ từ phương Bắc cũng có sự nhầm lẫn và ông giải thích rất khách quan rằng có thể do Nhà bác học đã quá tin vào ghi chép của các nhà sư mà quên kiểm chứng.

Khi có vấn đề gì người ta thường hay đổ cho Cơ chế. Cơ chế là do con người đặt ra thì con người có thể thay đổi chứ. Đổ vấy như thế chỉ là một mánh khóe che đậy hay một sự trốn tránh trách nhiệm. Mấu chốt chính là vấn đề Sở hữu. Vẫn là anh thôi, khi “quản” một dự án hay xây một công trình công cộng thì có thể tha hồ bấu véo, thoải mái trong “cơ chế tiền chùa”, còn làm nhà riêng cho mình thì khỏi bàn, chi li từng cân xi măng sắt thép. Ông cha ta thường nói: “Cha chung không ai khóc”. Đã là lời các cụ nói rồi thì ai mà chẳng biết, chỉ có điều ai dám nói và ai dám nghe những lời “trung ngôn nghịch nhĩ”, những ý kiến phản biện trái chiều. Cứ tung hô kiểu “Hoàng thượng anh minh”, cứ ve vuốt, phụ họa những lời cấp trên nói như lũ hoạn quan nịnh thần mặt trắng bệch, lông mày cụp trong các vở tuồng chèo thì dễ quá. Cái cơ chế thoáng không gắn liền trách nhiệm và đầy rẫy những hang hốc khiến những kẻ gian tham và lũ cháu con của Lã Bất Vi tha hồ lợi dụng. Mọi thứ mua quan bán chức, tham nhũng đục khoét cũng đều từ nguyên nhân “sở hữu” mà ra cả.

Năm 1998, ba vị đại quan Võ Kiếng, Lý Huỳnh và Tiến Trung hạ “mũ cánh chuồn” rời 22 Ngô Quyền xuống làm thống lĩnh Viện Dầu Khí, Công ty Chế biến & Phân phối các sản phẩm Dầu Khí và Công ty Tài Chính. Người ta nói rằng đó là những con người “túc kế đa mưu, có khả năng khuynh đảo thiên hạ”. Tôi biết Trung là gương mặt thông minh và sáng giá. Ở đâu hắn cũng có thể nghĩ được những việc ra hồn. . Hồi đó quan tổng trấn binh lương tự là Huỳnh Phế cũng được xếp vào hàng “dị nhân”. Ngoại trừ việc hậu duệ 80 đời của Quan Vũ là Văn Vịnh có một lần thiếu kiềm chế không chịu nổi chiêu “vẫy ngón tay” của Phế đã “xuất chưởng”, còn thì hắn coi trời bằng vung. Thảm đỏ khách sạn 5 sao xứ Tây Đằng cũng chỉ đáng để cho hắn nhổ toẹt. Ai cũng sợ bóng sợ vía qua những câu chuyện bâng quơ:“ Hôm 26 Tết vừa rồi, vợ chồng mình đến chơi nhà anh Diêu ngồi chơi nói bao thứ chuyện về Ngành mình, đến khi về chị Diêu lại còn dúi mấy quả bưởi bảo đem về cho các cháu ăn Tết…”.Cứ thế, cứ thế. Anh Diêu là Top VIP thời ấy mà hắn còn quen thân như thế? Chẳng biết thực hư ra sao nhưng khối VIP nghe thấy mà chết khiếp. Nếu không bị hãm tướng bởi đôi tai mỏng dính, chức vị của hắn có thể còn ngất ngưởng khôn lường. Chuyện cáo mượn oai hùm xưa nay đâu hiếm. Ở ngành này, tôi đã chứng kiến những cuộc reo hò, nhiều lúc vênh vang, nhiều lần ủ rũ thõng thượi của bao kẻ. Họ được nhiều mà mất cũng nhiều. Điều chắc chắn là cái tâm của họ chẳng bao giờ được tĩnh. Họ phải đổi, phải mua, phải qụy lụy, phải lọc lừa, tàn bạo và có khi phải trả giá...Tôi có nhiều tháng năm hạnh phúc nhưng cũng đã từng phải nếm trải những giây phút se lòng về sự bạc bẽo, đố kỵ và độc ác của con người. Về sau tôi chợt nhận ra rằng những người sống không tử tế ấy đều có kết cục buồn.

Năm 2001, anh Nguyễn Xuân Nhậm lên làm TGĐ thay anh Ngô Thường San. Từ một cán bộ kỹ thuật rồi Vụ Phó Vụ Cơ Điện, Giám đốc GPTS, Giám đốc PTSC, Phó TGĐ PetroVietnam, cứ mỗi lần ra đi nhận trọng trách mới, người ta đều thấy phía sau anh là những cầu cảng, tàu thuyền, kho tàng, bến bãi, công trình. Những lãnh đạo chủ chốt của khối Dịch vụ dầu khí bây giờ hầu hết đều trưởng thành từ lớp cán bộ trẻ đầy năng động do anh đào tạo. Người ta nói rằng ngành Dầu khí hiếm thấy một người nào có tầm nhìn xa với khả năng điều hành sắc sảo và quyết đoán như anh cả. Tiếc là anh chỉ giữ cương vị đứng đầu ngành chưa được ba năm rồi phải ra đi nhưng những dấu ấn anh đã để lại thật khó quên, đáng được mọi người trân trọng.

8. THẮP SÁNG BIỂN KHƠI

Cuối năm 2002, tôi được TGĐ Petrovietnam bổ nhiệm làm TGĐ Liên doanh Điều hành Chung Lam Sơn (LSJOC) triển khai Hợp đồng ký kết với Petronas tại lô 01/97 và 02/97 , ngoài khơi đông nam Việt nam. Tôi chưa bao giờ nghĩ mình sẽ đi đâu nữa cả. Mỏi chân rồi. Nhưng hình như số phận chưa cho tôi dừng lại. Thằng bạn Quang Bô cũng chia sẻ tâm tình và khuyên tôi nên thay đổi. Hình như những biến động cuộc đời tôi thường gắn với những con số 2 như thế: Tôi sinh ngày 22-2. Năm 1972 tốt nghiệp ĐH ở Romania về nước và bắt đầu vào Ngành Dầu khí từ đó. Năm 1982, đi Na-Uy. 1992 từ Viện Dầu Khí về lại PetroVietnam và Tháng 12-2002 tôi nhận tờ quyết định điều động ấy. Vũ Ngọc An đã có lần trăn trở về “một con hổ đang ngủ, chưa có ai đánh thức” trong quán nước chè góc phố Ngô Quyền và tôi đã bật cười:” Hổ đang ngủ hay ngoẻo rồi?”.” Tao đã nói trường hợp của mày, biết nó nói thế nào không? Nó công nhận mày có trình độ, thông minh, ngon lành nhưng mắc hai tội lớn là Biết nhiều và Lưỡi sắc quá!”. Tôi mỉm cười cám ơn thằng bạn đã quan tâm. Tôi hiểu đó là một mệnh đề mở , nó hoặc anh bạn lãnh đạo kia, do tế nhị chưa nói hết phần chốt (để phải tự hiểu?) ở phía cuối:”...nên không thể dùng”. Có điều tôi chẳng thấy thế làm buồn. Trong cuộc đời, chẳng ai được hay mất tất cả. Thường thì được cái này mất cái khác. Quan trường được nhiều thứ, kể cả bổng lộc, vênh vang, nhưng cũng cực. Có một lần ngồi chờ ở sân bay, nghe một thằng bạn chức sắc tâm sự:“Tôi chán lắm ông ạ. Bây giờ họp giao ban, không khí thật nặng nề. Bọn mình lớn tuổi nó còn ngại một tý chứ bọn trẻ bị nó chửi như chửi chó!”. Tôi nghĩ buồn và bỗng thấy thương nó.Từ hồi cha sinh mẹ đẻ tôi đã thích sống phóng khoáng, tự do. Cả đời tôi, chưa có người nào dám xúc phạm tôi, kể cả những người tai to mặt lớn. Tôn trọng nhau thôi, bởi nếu không thì liệu chừng, có thể nhất là bét. Tôi rất ngấm lời cụ thân sinh ra Bác:”Quan trường thị nô lệ trung chi nô lệ, hựu nô lệ", (Quan trường là nô lệ trong những người nô lệ, nên lại càng nô lệ hơn). Bởi thế cuộc ra đi cũng có thể trong người cảm thấy có điều gì ngột ngạt, cần có một sự thay đổi. “ Change We Need”, nói như kiểu Obama vậy.

Tôi tham dự buổi liên hoan tất niên cuối cùng với Phòng TDKT như truyền thống hàng năm và cũng là buổi chia tay. Nói là cuối cùng vì PV vừa có quyết định tách Phòng ( Department) thành hai Ban ( Division): Ban Tìm kiếm Thăm dò và Ban Khai thác Dầu khí. Tôi nói đùa: “Vui này biết ngỏ cùng ai/ Một Phòng đã hoá thành hai Sư Đoàn” ( chữ Division trong tiếng Anh còn có nghĩa là Sư Đoàn).Tôi nâng cốc chúc và chào tất cả anh em, bè bạn và mừng cho anh Đắc tới lúc sắp về hưu mới có được hai niềm vui trọn vẹn (mua được nhà ở Mỹ Đình và con cái đều giỏi, ngoan, xuất ngoại cả). Bạn bè, đồng nghiệp và những người thân yêu lưu luyến nắm tay, chúc tôi ra đi “chân cứng đá mềm”.

Lam Sơn JOC là Liên doanh đầu tiên và duy nhất phía Việt nam đảm trách cả hai chức vụ quan trọng nhất, Tổng Giám đốc và Giám đốc Thăm dò ngay tự phút đầu (Thông thường những vị trí quan trọng này đều do người nước ngoài nắm giữ cho tới khi họ tìm ra phát hiện thương mại bởi vì họ là người phải chi tiền và gánh chịu hết rủi ro trong suốt Giai đoạn 1 ). Đó là sự tin cậy từ hai phía, song với tôi, nó cũng đầy trách nhiệm. Tôi đã để ý tới hai gương mặt: Hoàng Ngọc Đang ở BP và Nguyễn Văn Quế ở JVPC. Đang đã bị tôi thuyết phục nhưng hiềm nỗi hắn vừa bảo vệ Tiến sỹ xong, giờ đi ngay hơi ngại. Còn Quế thì chính tôi vừa giới thiệu cho Vũ Ngọc An ( vì đâu nghĩ mình vào), nên thật khó. Nghe đâu An biết tin ấy giận lắm và tôi đã phải tới CLJOC “guarantee” là sẽ không lấy Quế nữa để “bảo vệ tình bạn”. Và hắn cười, bắt tay rõ chặt. Ngày 7/1/2003 Hợp đồng lô 01/97& 02/97 được ký kết. Đó là món quà tặng sinh nhật vợ tôi vào ngày hôm sau. Ăn Tết xong, 12 tháng Giêng tôi lên đường. Tôi mượn tạm hai phòng làm việc của Petronas làm trụ sở tạm thời và bắt đầu “chiêu hiền”. Cũng may, tháng 3/2003, Đang cũng rời được BP để “đứng dưới cờ đại nghĩa” Lam Sơn, nói như kiểu Ngô Xuân Khoa, Admin Manager của LSJOC hồi đó. Các công việc như Nhân sự , soạn thảo Chính sách Quy chế, Trụ sở làm việc và nhất là Chương trình Công tác và Ngân sách (CTCT&NS) hàng năm phải trình gấp MCM phê duyệt. Anh Đỗ Văn Hà, vị chủ tịch UBQL đầu tiên ấy tỏ ra rất trách nhiệm và có uy tín. Ngày 20/6/2003 chúng tôi khai trương Trụ sở làm việc của Lam Sơn JOC tại Sun Wah, 115 đại lộ Nguyễn Huệ, Quận I, Tòa nhà đẹp nhất Tp Hồ Chí Minh lúc bấy giờ. Nhiều người ái ngại cho LSJOC vì đây là một hợp đồng khó , bởi họ thấy một hợp đồng khác “ngon ăn” đã có người đã xí trước rồi. Phía nước ngoài cũng cam kết vẻn vẹn 1 giếng khoan cho Giai đoạn 1 do đánh giá rất hạn chế về tiềm năng dầu khí trong khi các Nhà thầu khác thường có cam kết công việc tích cực hơn nhiều. Nhưng đó là chuyện vặt, với tôi trên đời này chẳng có gì là khó cả nếu anh quyết tâm làm. Tôi không nhìn vùng biển 11000km2 mà LSJOC quản lý là một rìa bể trầm tích nông choèn mà phía nước ngoài đã từng làm bao năm và hoàn trả. Dưới mắt tôi cái “nương dâu” như mắt thường vẫn thấy, ngày xưa đã từng là “biển cả”. “Trải qua một cuộc bể dâu” mà nó thành như thế. LSJOC đã phải thuyết phục phía Petronas rất lâu để có thêm ngân sách thu nổ thêm địa chấn phần phía Bắc. Để củng cố niềm tin cho phía đối tác, tôi đã phải bao phen ra PV thuyết khách.Cũng may những người tham gia quyết định như Phan Thị Hòa, Đỗ Đình Khải, Nguyễn Ngọc S, Đỗ Văn Hà.. đều là những người đã biết và tin tưởng tôi. Họ hoàn toàn ủng hộ. Lần đầu tiên và cũng là duy nhất, PV đồng ý đóng góp 2,5 triệu USD chung với Nhà thầu để thu nổ thêm 700 km2 tại khu vực phía bắc lô 01/97 trong Giai đoạn 1. Trong thời gian ở Hà nội, tôi liên tục giữ liên lạc với LSJOC và cả CLJOC nhằm có được một chiến dịch thu nổ tối ưu nhất. Graem Bone (phụ trách về ĐVL) và Nguyễn Văn Quế ( khi ấy là cố vấn kỹ thuật) của CLJOC rất phấn khởi khi nghe tin tôi báo tin chiến thắng. Như thế có nghĩa là LSJOC và CLJOC sẽ thu nổ chung trên một diện rộng gần 1500km2 tại phía bắc lô 15-1 và 01/97 với những điều khoản hợp đồng thuận lợi, tiết kiệm cho mỗi bên ít nhất là trên 1 triệu USD thời ấy. Graem Bone cám ơn rối rít và hứa sẽ chiêu đãi tôi một bữa thịnh soạn (!). Kết quả của đợt khảo sát địa chấn ấy đã cho hàng loạt cấu tạo tuyệt đẹp như Sư tử Nâu, Hổ Xám South, Hổ Xám v.v. và chứng minh giả thuyết ban đầu là đúng: Chúng tôi đã bắt gặp tầng sinh dày hàng ngàn mét. Một hệ thống dầu khí lý tưởng đã được khẳng định. Giếng khoan đầu tiên được đặt tên là Thăng Long-1X đã kết thúc thắng lợi. Đó là những giây phút tuyệt vời của tất cả chúng tôi. Rồi Đông Đô, Hổ Xám, Hổ Xám South, Hồ Tây cũng cho những cảm giác nghẹt thở và mừng vui tới tột cùng! Chúng tôi đã trực tiếp lấy dầu lên từ thẳm sâu biển cả. Xin kính dâng Tổ Quốc mẹ hiền, kính dâng Thăng Long ngàn năm thương nhớ. LSJOC đã ghi được những kỷ lục về Độ sâu tầng Móng và tầng cát kết chứa dầu nông nhất; lần đầu tiên phát hiện ra tầng chứa dầu Miocene Trung tại bể Cửu Long, tỷ lệ giếng thành công cao nhất (8 /9 giếng), lưu lượng dầu lớn nhất trong tất cả các lô có hoạt động thăm dò của Petronas tại Việt Nam. Nhưng Vinh quang cũng thường đi cùng Cay đắng. Để có được những thành công ấy đòi hỏi con người đứng đầu phải có kiến thức, có trách nhiệm và bản lĩnh . Là người trực tiếp theo dõi và điều hành, căn cứ vào tình hình thực tế thi công, trong những trường hợp cấp bách anh phải ra quyết định, thậm chí có khi khác hẳn phương án đã được phê duyệt để có thành công. Đã có lần tôi làm như thế và suýt phải trả gíá bằng cả sinh mạng chính trị của mình cho dù quyết định thay đổi ấy đã mang lại thành công vang dội.

Nguyễn Quyết Thắng — trong lần thử vỉa giếng khoan Thăng Long – 1X. ((Ảnh do TG cung cấp - BBT))

Đội ngũ Việt nam của LSJOC cũng ngày một trưởng thành. Có những người đã rời cái nôi xưa trở thành những cán bộ đầu ngành, nắm trọng trách ở PV, ở các JOC hoặc chuyên gia đây đó. Tôi đã giữ lời hứa và tạo điều kiện đề Hoàng Ngọc Đang ra đi sau ba năm anh em ngọt bùi chia sẻ. Đang chắc chuyên môn, hiền lành, tốt tính, có “kinh nghiệm trận mạc” lại trẻ hơn tôi gần chục tuổi, nó còn những cơ hội khác. Đang đã ra Hà nội làm Phó Ban TKTD, rồi trưởng ban TKTD (PV). Tôi phát hiện ra từ hồi ở Lam Sơn JOC hắn nghe tay bác sỹ liều mạng cắt phăng cái nốt ruồi kiêm mụn cơm ở gần khóe mắt, mọi việc sau đó cái gì cũng may mắn, hanh thông. Trần Mạnh Cường về thay Đang. Cường trước làm cùng Phòng TDKT với tôi, đã có vài năm lăn lộn ở CLJOC với chức danh Senior Geologist. Nhanh nhẹn và nói năng ngon lành nên đã lọt mắt xanh của Trưởng Ban Quản lý Hợp Đồng, PV sau khi về LSJOC ít ngày. Căng quá. Nhưng đó là cơ hội của anh em. Và tôi ủng hộ. Sau mấy tháng miệt mài cùng đám G&G thiết kế và bảo vệ xong 2 giếng khoan, Trần Mạnh Cường ra Hà nội làm Phó Ban Quản lý Hợp Đồng, sau chuyển về chỗ cũ làm Phó Ban TKTD (PV). Lê Văn Hùng từ BP về thay Cường. Hùng là một trong những gương mặt địa chất trẻ sáng giá. Hùng đã từng lăn lộn hết các bể trầm tích ở phía Nam qua các nhà thầu UNOCAL (Thềm Tây Nam), Hoàn Vũ JOC( Bể Cửu Long) và BP ( Bể Nam Côn Sơn). Hồi gặp nhau lần đầu ở UNOCAL tôi đã biết hướng đi của chàng trai có dáng thư sinh này sẽ theo hướng ấy. LSJOC đã khoan thêm 7 giếng trong 2 năm sau đó, chả bù cho Giai đoạn I, nói “vã bọt mép” mà phía PCOSB vẫn cứ ì ra đấy. Khoan nhiều nên mọi người đều vất vả nhưng vui. Ngô Xuân Khoa là GĐ hành chính của LSJOC, đứng dưới cờ từ hồi Lam Sơn tụ nghĩa. Hắn là kỹ sư Hóa,tốt nghiệp cùng khóa với tôi ở Rumani, trước làm ở Thái Nguyên sau về Hà nội, nghe đâu đã từng làm trợ lý cho một tay VIP nào đó ngoài Thành phố và đã từng có vài năm chu du đất Tiệp. Năm 1992, Jamaha (Già-mà-ham, tên Nhật của hắn) ra một quyết định gây “sốc” cho Thị Hà, vợ hắn: Đi Nam, làm cho bọn dầu khí Hàn Quốc KNOC. Tôi biết hắn qua mấy lần vào họp với lũ ChimDangSun này. Gã luôn gây huyên náo mỗi khi đến Công ty bằng những ngôn từ hơi bị…choáng (!).Tính hắn phổi bò, giỏi thiền và cúng tế. Nhìn hắn vận đồng phục quần trắng- áo the - khăn xếp tiến thoái nhịp nhàng, miệng khấn lầm rầm rồi phủ phục, nện trán bôm bốp xuống sàn đến rớm máu thì tôi dám cả quyết rằng dù khó tính đến đâu cũng chẳng có thần linh nào nỡ khước từ lòng thành đó cả. Và tôi đã tận dụng triệt để sở trường đó của hắn vào dịp Khai trương Công ty và tất cả những lần “Mở Lỗ”.

Những trợ thủ như Syed Nasrudin, Adam, Amiruzan, Shaharudin (PhóTGĐ); Zulkifli, Ali, Farimin (GĐ Khoan); Wahab ( GĐ Tài chinh-Kế toán), mỗi người một cá tính, có cả những ý kiến trái chiều và không thống nhất lúc ban đầu nhưng sau một thời gian sống họ đã hòa đồng và làm việc hết mình vì một gia đình LSJOC đoàn kết và thắng lợi. Syed Nas, Adam cho mãi sau này từ trung Đông vẫn gửi thư về, nhớ thời ở Lam Sơn ghê lắm. Những cán bộ kỹ thuật thuật Hoàng Ngọc Đông, Trần Thanh Long, Trần Hữu Trường Sơn, Nguyễn Văn Nam, Nguyễn Nhị Thủy, Tuy Lê Giang, Mike Wilson, Mike Karson, Mike Allison .. nhiệt huyết, cần cù.. Nhiều tên tuổi đã trở nên quen thuộc trong làng dầu khí. Những gương mặt rất trẻ hôm nào như Phan Thanh Hải, Marizam,Trang Nhật Minh, Trần Thanh Tùng, Diana lăn lộn qua công việc giớ cũng đã trưởng thành. Những gương mặt Hà Lý, Thu Hương, Hồng Hạnh, Minh Nguyệt, Bảo Phương, Xuân Dung, Thủy Nguyên, Cẩm Trang, Cẩm Vân, Kiều Linh, Thu Quỳnh dịu dàng, duyên dáng với những tà áo dài mang bản sắc Lam Sơn…Và bao gương mặt bạn hữu phương Nam. Tất cả đã làm nên một thời để nhớ.

PVEP lúc bấy giờ do Chánh kỹ sư VSP Phùng Đình Thực được điều lên làm Giám đốc. Anh là người trưởng thành từ Mỏ Khí Tiền Hải C giữa những năm 70’ tới Giám đốc XN khoan, Chánh kỹ sư XNLD VSP đầy tiềm năng thẳng tiến về Hà nội nếu như trên đường bay ấy nó không bị những “hạt bụi vũ trụ” vướng vào. Việc quẹo sang PVEP chính là khoảng thời gian chệch quỹ đạo bay ấy. Có một lần trò chuyện ở Thanh Đa, khi nghe tôi nói lại chuyện xưa, Phùng Đình Thực chỉ cười, đưa tay với trên giá tập Giáo trình Khai thác Dầu Khí của anh dùng để giảng dạy tại các trường Đại học và thủ thỉ“Quyền lực chỉ là thứ phù du. Cái này, cũng như thơ của bác mới là những thứ có khả năng lưu lại cho đời”. Đó là một người đàng hoàng và tử tế.

Năm 2001 khi anh Thoảng rời PV, anh San chuyển sang HĐQT, nhưng cũng chỉ giữ cương vị Ủy viên thường trực . Ít lâu sau, anh. Phạm Do, giám đốc Trung tâm Lọc Hóa Dầu (TTLHD) được bổ nhiệm, điều ra làm UVHĐQT rồi sau đó lên làm Chủ tịch. Đây là thời kỳ sóng gió của ngành dầu khí. Chỉ trong 1-2 năm đã có hàng chục cán bộ của ngành bị xử lý kỷ luật, thậm chí bị khởi tố, điều tra, trong đó có cả những cán bộ giữ vị trí chủ chốt trong Tổng Công ty” (Tuổi trẻ Online, Thứ Năm, 03/06/2004). Phó Giám đốc TTLHD Đình Trương kể rằng ngay cả khi ở cương vị cao nhất ấy, Tiến sỹ Do vẫn giữ nguyên cái phòng làm việc ở số 4 Nguyễn Thông và “bảo lưu” cái ghế Giám đốc ấy cho tới khi anh rời khỏi PetroVietnam. Chức Giám đốc tấn phong muộn mằn phút chót cho Trương chỉ còn ý nghĩa tượng trưng, giải quyết chế độ nghỉ hưu. Nghe đâu có một thời anh đã từng nhận làm con nuôi của Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Tố Hữu. Nhưng đến khi Nhà thơ mất, tôi là người yêu thơ và kính trọng Ông đã tới dự Lễ Tang tại Lê Thánh Tông từ sớm, song đến phút cuối cùng chẳng thấy bóng “nghĩa tử” kia đâu cả. Chắc Nhà thơ cũng thoáng buồn. Hoặc sẽ chẳng bao giờ buồn cả vì chuyện này có thể ông đã biết từ rất lâu rồi. Những việc anh đã làm, vô tình hay hữu ý, chắc anh đều biết hết. Chỉ biết rằng sau khi từ giã chính trường, anh khá ngại ngùng mỗi lần trở về thăm lại các đơn vị cũ.

Các cụ hay nói “cái răng cái tóc là góc con người”, nhưng tôi thấy “cái Họ cái Tên làm nên sự nghiệp”, nếu so với hai thứ răng, tóc trên kia, nó không phải là “góc” mà chiếm “già một nửa”.Từ lâu tôi đã nghiệm ra rằng ngoài Số phận ra, hầu hết những người mang “Họ Ngũ cốc hay Sản phẩm của ngũ cốc”;có Tên bốn chữ , nhất là có chữ “IÊ” ở giữa đều thành đạt. Thêm dấu nặng nữa thành chữ “IỆ” thì tột đỉnh vinh quang . Này nhé, Họ Ngũ cốc: Đỗ Quang Toàn, Đỗ chí Hiếu, Đỗ Văn Hà, Đỗ văn Hậu, Đỗ Văn Đạo , Ngô Thường San, Ngô Văn Sáng ( đấy là chưa nói tới những cái tên nổi tiếng như Ngô Quyền, Đỗ Phủ, Đỗ Mười, Đậu Ngọc Xuân…); Sản phẩm ngũ cốc : Hồ Sỹ Thoảng, Hồ Đắc Hoài, Hồ Tế.. ( chưa kể tới những cái tên như Hồ Chí Minh, Hồ Quý Ly mang tầm đất nước hoặc Hồ Diệu Bang, Hồ Cẩm Đào bên Trung Quốc). Còn tên 4 chữ cái thì Cảnh, Hiệp, Liễn, Liệu, Nhậm, Hùng, Dũng, Kính... ai chẳng biết. Vần “IÊ” ư, nó đã rất nổi tiếng trong ngành từ thuở ban đầu: Nguyễn Văn Biên, Đinh Đức Thiện, Trương Thiên v.v.đấy là chưa nói tới những Lý Thường Kiệt, Võ Văn Kiệt v.v. Anh Hoài hồi ấy nghe Tổng kết quy luật ấy giật mình: “Trời, đúng thật! Tớ phải về nói với anh Thoảng khéo phải đổi tên là Hồ Sỹ Thiểng”(!). Có một lần có một thằng tây hiếu kỳ hỏi tôi:” What does DO VAN mean?”, Đo ván? “KNOCK OUT”, tôi buột miệng. “But DAO, HAU, HA?”, “Religion, Back, River!”, tôi dịch phăng phăng sau mới giật mình: chết cha! Hóa ra nó muốn dịch họ và tên mấy vị quan chức Đỗ Văn Đạo Đỗ Văn Hậu và Đỗ Văn Hà !!.Ở Hà nội có một thời công ty thăm dò khai thác tất cả những người lãnh đạo tên có dấu “Nặng” đều giữ cấp trưởng như Liệu , Đạo , Hậu, Thập. Không dấu chỉ có thể làm cấp Phó như Giao, Liêm, Trương, Vinh.Dấu “Nặng” mà có thêm Mũ (^) thì tuyệt hảo, nhưng chỉ có Mũ (^) mà thiếu dấu “Nặng” thì cũng không thành như “Lâm” chẳng hạn. Cứ xem chuyện ấy mà suy, mình hoàn toàn nằm ngoài “quy luật” nên vất vả cũng là lẽ thường tình. Giỏi giang như thằng bạn thân của tôi, kiến thức thông tuệ, ngoại ngữ đầy người, miễn chê về tướng tá, bao phen cứ nghe đồn sẽ điều ra PV làm Trưởng Phòng TDKT, Trưởng phòng HTQT, rồi Giám đốc này khác mà cuối cùng khi về cũng chỉ là PGĐ của một công ty, trong khi có những thằng bạn khác chỉ về hưu chậm hơn 2 tháng hoặc lâu hơn chút xíu đã “Ô-tô-mát” trở thành Phó TGĐ (Vice-President in English) của một Tổng Công ty hoành tráng. Có số hết. Tôi nói với thằng bạn:” Sướng khổ tại tâm. Mày nghĩ sướng thì mày sống sướng, nghĩ khổ thì sống khổ. Làm đến bậc công khanh mà trong lòng vẫn tức tưởi vì có kẻ tài cán chẳng hơn gì mà đã lên hàng Thái phó thì cũng chẳng sướng gì. Giàu thì mày chưa bằng Thạch Sùng, nhưng biệt thự, nhà đất, gia đình như thế cũng làm khối kẻ hờn ghen; Sang thì chắc không thể sánh hàng Tứ Trụ , nhưng mỗi lần hết giờ làm việc, bước lên xe con cho tài xế vinh dự đưa về cũng khiến bao người lác mắt. Chẳng có gì đáng để ta buồn!”. Tôi có một thằng bạn thân thuở sinh viên. Hắn tốt bụng và thật thà Nhưng có thể nhà hắn gần Trương Xá nên lắm lúc cũng nóng tựa Trương Phi, đòi “cắt gân đốt nhà” nhiều kẻ. Hắn thường khiêm tốn tự xếp mình vào hàng “mũi dãi” so với bạn bè. Nhưng tôi biết đó là kiểu “mũi sư tử dãi yến”, Mu-Sư-Da-Y theo cách gọi của Nhật .Một lần nghe hắn trách than thái quá về chuyện con bé thứ hai chậm lấy chồng, tôi phải dùng phương pháp Quát: “Khổ gì mày nói tao nghe. Cứ kêu hai con vịt giời nhưng thử hỏi có đứa nào được như mày. Đứa đầu có chồng Giám đốc, xe cộ nhong nhong; đứa sau chậm một tý nhưng tao thử hỏi trong cả lũ đi học lứa mình có đứa nào có con tý tuổi đã làm Tiến sỹ ở Mỹ rồi về làm việc ngay ở Headquater của “địch” tại Luân Đôn không?”. Hắn thừ người rồi ngoác miệng :” Ừ, đé..có thằng cặ..nào thật!”. Bây giờ đứa con gái hắn lấy chồng, một thằng Mỹ “made in Vietnam” tử tế và tôi không thấy hắn phàn nàn gì nữa. Sướng rồi.

Mỗi người đều có số phận. Những nhân vật như Bì Văn Tứ, người cả đời lặn lội hết Tĩnh Gia đến Tuy Hạ với sự nghiệp “chuẩn bị Nhà máy lọc Hóa Dầu”, Vũ Đình Chiến, nguyên giám đốc Công ty Khí, con trai của vị tướng 2 sao , đầy tiềm năng, tưởng chắc mười mươi thành một VIP của Ngành; Nguyễn Quang Thường, nguyên Phó TGĐ PV, Dương Quốc Hà, nguyên Phó TGĐ VSP v.v thì lâm vòng lao lý trong khi nhiều người khác lại thăng tiến vù vù, không ai hình dung nổi, đến mức có lần tôi phải dặn bọn đàn em để chúng đề phòng một khi vận may ập đến:” Hễ thấy cảm giác như có ai túm tóc trên đầu kéo lên là lập tức phái nhảy vút theo nghe chưa? Tao thấy có trường hợp như thế, song do phán đoán nhầm nó lại dùng chiêu Xuống tấn thành ra bung hết cả mảng da đầu! Phải ghi nhớ nghe không?”. Bọn đệ tử hô vang “Yes Sir!” rồi gật đầu lia lịa. Nhưng nói thế thôi, chúng nó thừa biết rằng chẳng có cái gì là không có nguyên nhân cả.

Tôi là người ít viết về Dầu khí. Chỉ giản đơn bởi cái mảng đề tài ấy đã có quá nhiều người viết. Không hẳn vì vợ dặn “Chỗ nào có đông người chớ chen vào!”, nhưng quả thực tôi cũng “ngài ngại” vì có nhiều người viết quá. Nhưng cũng có lần phải viết. Số là vào dịp kỷ niệm 30 năm thành lập Tổng Cục dầu Khí, Tiến sĩ Nguyễn Huy Quý, Phó Trưởng ban Khoa học Công nghệ của PetroVietnam vào Sài Gòn đề nghị tôi viết bài cho Hội nghị Khoa học “mang tầm quốc tế” nhân sự kiện quan trọng này. Quý sinh năm Canh Dần, có lá số tử vi sướng từ bé. Hắn vốn tinh ranh, biết chọn mặt gửi vàng, nhưng không may hắn vớ phải một “Lãn Ông” chỉ quen phiêu du, chinh chiến .mà chẳng quan tâm “đúc rút, tổng kết, nâng lên thành lý luận” vì không có thời gian. Có giây phút nào tĩnh lặng hoặc xuất thần tôi đều dành cho Thơ cả. Sau bao lần thoái thác không thành, nể lời Huy Quý, tôi đành viết. Bài báo được in trong Tuyển tập và trình bày bằng cả hai thứ tiếng trong Hội trường chính : “ Petroleum Exploration in Cuu Long Basin, the Keys of Success” (Thăm dò dầu khí Bể Cửu Long , những vấn đề then chốt quyết định thành công) được làng tây, ta đánh giá cao do kết hợp được cả hai yếu tố khoa học và thức tiễn.. Nó cũng là bài viết duy nhất của tôi về ngành nghề dầu khí.Tôi yêu văn chương và thích làm thơ từ khi còn rất trẻ nhưng phải tới ngoài 50 tuổi mới xin được “visa” của vợ cho in mấy tập thơ vì e tôi “ in sớm lại tí tởn”, vợ tôi hay đùa vui vậy. Ba tập Lời Biển, Phù Sa, Ngàn Mây đều do NXB Văn học ấn hành và tập Cúi xuống Bầu Trời in tại NXB Hội Nhà Văn. Tôi không có thơ viết về ngành nghề hay thế sự mà thiên viết về Tình yêu. Tình yêu con người, tình yêu đôi lứa, tình yêu một vùng đất, vùng trời. Bởi Tình yêu là muôn thuở. Với tôi thơ là sự đam mê, giải tỏa và sự sẻ chia :“ Một đời phiêu bạt lãng du/ Thả thơ theo từng ngọn gió/ Hòa vào đất bắc trời nam/ Hòa vào đông tây kim cổ” . Đấy là giây phút cái đẹp được phát hiện, thăng hoa, diệu kỳ lấp lánh.

Một lần PV có mời một đoàn nhà thơ vào thăm một số đơn vị phía Nam, sau đó sẽ ra mỏ Bạch Hổ tham quan để lấy tài liệu viết bài về Dầu Khí. Tôi bất ngờ được PVEP nhờ tiếp giúp “phi vụ” này. Chiều tối hôm đó, tôi gặp các nhà thơ Phạm Tiến Duật, Nguyễn Đức Mậu, Nguyễn Hoàng Sơn…tại Bình Quới 1. Sau một chầu bia rượu, nghe anh Tâm Công Đoàn giới thiệu về tôi, anh Duật vui vẻ: “Người anh em có thể tặng bọn mình một bài thơ về dầu khí được không?”. “ Không. Dầu khí là đề tài có nhiều người viết rồi anh ạ. Đông người ngại lắm!”,”Thì thơ không dầu khí cũng được?”.Thấy thái độ rất thoải mái và chân tình của mấy nhà thơ, tôi nổi hứng đọc vài bài thơ. Tiếng vỗ tay và hò reo. Khi đọc đến bài Trời đày:“Đã thề chỉ nói lời hay/Lại vui nói hết lời say với người/Đã thề trọn kiếp rong chơi/Lại vô tình vướng sự đời giăng câu…”. Anh Duật đứng lên và oang oang: “Hay quá! Bài này ông phải để làm Tựa ở ngay trang đầu. Này, Dầu Khí mời chúng tôi vào để viết bài, tôi nói thật, chúng tôi chẳng giúp các ông phát hiện ra mỏ dầu quái nào đâu, nhưng hôm nay tôi phát hiện được một Mỏ Thơ rồi. Đấy là Mỏ Thơ NQT!”. Nói xong anh nắm tay tôi lắc mạnh. “ Ông chép tặng mình mấy bài thơ ấy đi”. Đấy là lần đầu tiên tôi gặp nhà thơ Phạm Tiến Duật. Sau đó tôi có tặng anh mấy tập thơ. Ít lâu sau tôi nhận được một bưu phẩm gồm hai cuốn tạp chí Diễn đàn Văn học Nghệ thuật Việt nam, trong đó có bài giới thiệu thơ tôi kèm gần chục bài thơ do anh tuyển chọn. Cũng vì lần gặp ấy, do “tự ái nghề nghiệp” ( Sao cứ phải để người khác viết?), tôi đã viết bài “Người thắp sáng biển khơi” mà bạn tôi, Trần Hồi đã mượn làm tiêu đề cuốn sách “Những người thắp sáng biển khơi” nhân kỷ niệm 25 năm ngày thành lập Vietsovpetro và nhạc sỹ Trần Ái Nghĩa đã phổ nhạc đầy ngẫu hứng sau này:”Chiều buông một trời ráng đỏ/ Đêm phơi một biển trăng vàng/ Bình minh sắc màu quyến rũ/Mơ về một thuở hồng hoang”. Lần ấy trở về anh Duật có bài:” Mùa Xuân, nhìn từ giàn khoan Bạch Hổ”. Sau này lần nào qua Sài Gòn, anh cũng ghé thăm tôi. Mấy lần anh rủ tôi vào Hội Nhà Văn, “Anh và Mậu hay Bằng Việt sẽ giới thiệu em…”. Tôi cám ơn anh và cố khước từ thật khéo.“Vào cho vui ấy mà “, anh nói xong rồi buông theo một lời bình mà sau này trong một lần nhậu, có một anh bạn Hội viên đã nổi khùng vì sợ mình bị liệt vào con số “70%” đó. Tôi quen anh được hai năm thì con người tài hoa ấy lâm trọng bệnh và ra đi vào ngày 4/12/2007. Bài thơ “Cây thông đứng giưa trời” nói về anh và thế hệ anh được tôi viết và đọc qua điện thoại cho anh nghe khi anh yếu lắm:Tin nhắn của anh gửi tôi: “Bài thơ này hay và lớn, anh cố khỏe để đọc”. Không ngờ đó là tin nhắn cuối cùng tôi nhận được.

Nguyễn Duy lại thuộc một típ người khác. Anh Duật nhận xét:”Duy nó khôn lắm, nó được cả đấy”. Tôi hiểu ý anh ấy muốn nói là một người biết mình, biết người và biết nhân tình thế thái. Anh có nhiều thơ thời chiến và có cả những bài thơ gai góc thời bình. Những Cây tre Việt nam, Đánh thức Tiềm Lực, Kim-Mộc-Thủy- Hỏa-Thổ là những bài thơ anh tâm đắc và chúng cũng làm nên tên tuổi một Nguyễn Duy. Anh là một trong số rất ít nhà thơ tôi gần gũi. Từ lâu anh đã không làm thơ. Trong bài ký của Đi trên đường cái quan, anh viết:” Không phải tôi bỏ thơ mà thơ đã bỏ tôi, vì thế đôi khi tôi phải hú lên mong gọi thơ về”.. Anh tâm sự rằng anh không làm thơ nữa vì biết rắng nếu cố viết anh cũng không vượt được cái đỉnh của chinh mình. Thôi thì để thời gian làm những điều có ích hơn. Anh làm lịch, vẽ tranh, dịch thơ thiền đời Lý - Trần nhằm quảng bá cho thơ. Tôi nhìn những mẹt, những lịch thơ, những bức ảnh đầy chất nghệ sỹ treo đầy phòng khách tại nhà anh ở 264 Lê Văn Sỹ, trong đó có một bức Nguyễn Du ngả người dưới chân tượng đài bên mộ Các Mác ở Luân đôn, tay cầm một cái điếu cày rất dài mang từ Việt nam sang, mắt lơ mơ nhìn làn khói thuốc mà cười phá. Anh kể“Bức ảnh này hồi trước mình phóng to lắm, có một thằng đến gạ mua, mình thét giá cao để nó không mua nổi, ai ngờ nó vẫn gật. Thôi thì bán cho nó, mình sẽ in tấm khác. Ít lâu sau đến nhà ông Sáu ( Võ Văn Kiệt), thấy ảnh mình treo ở đó. Hóa ra ông Sáu qua nhà mình xem ảnh, sau ngầm bảo nó tới”. Tôi quý mến anh bởi cả sự tài hoa và cá tính. Anh hay mời tôi đến chơi, nhất là mỗi khi có khách Tây, khách Mỹ. Họ là những bạn bè, dịch giả và là những nhà nghiên cứu Việt Nam. Tự tay anh nấu nướng. Tiết canh vịt và ba ba là những món sở trường của “đầu bếp” Nguyễn Duy. Khỏi phải bàn, Nguyễn Duy là một anh chàng bợm nhậu và là nhà ẩm thực nổi tiếng Việt nam rồi. Nhớ nhất là khi anh đọc thơ. Người bé con nhưng giọng thì sang sảng. Những tiếng “Ai?” gầm lên rồi ”Không Ai!” chùng xuống thì chỉ thấy ở kẻ nhập đồng như anh mới có nổi. Về thơ tôi, chẳng biết khen hay chê mà anh hay nói với người khác rằng “có những bài đọc thấy gai hết cả người.”.

Ở Sài Gòn, mỗi lần xuống Vietsovpetro làm việc với JVPC, PTSC Marine hay với Hoàng Quý, Viện trưởng NIPI tôi đều ghé thăm Trần Hồi và Trần Lê Đông (cả hai anh chàng này lẫn hầu hết các chức sắc khác như Đỗ Khải, Văn Tuyến, Hà Ngọc Khuê thực ra đều là bạn cũ). Đông đi học ở Nga-Xô, song mấy bố con có cái tên Đông-Phương-Hồng ghép lại đặc sệt khách Tàu này rất khoái câu thơ: “Huế thì cứ mãi mãi xanh/ Chỉ riêng có một mình anh bạc đầu” mà tôi viết nhân một lần tới Huế. Hắn khoái vì hợp với tâm trạng và hợp với cái đầu muối tiêu của hắn. Sinh nhật tôi năm nào hắn cũng gọi điện mừng. Hình như hai đứa đã từng thề“tuy không sinh cùng ngày nhưng nguyện sẽ nghỉ ngơi cùng ngày cùng tháng cùng năm” và lời thề đã ứng nghiệm(!?). Riêng Trần Hồi tôi biết hắn từ những năm 70 của thế kỷ trước. Anh chàng Phó TGĐ mà ai cũng quý mến này sống rất tử tế và khoáng đạt. Hắn rất trọng các văn nghệ sỹ. Có thể vì thế, ngoài công việc ra, tôi còn được hắn quý hơn một tý. Phạm Tiến Duật, Nguyễn Duy là những người thân của cả tôi và hắn. Trước kia tôi hay lang thang Yên Tử, Đà Lạt, Huế, Mũi Né…và đều có thơ để lại. Có một lần vào năm 2002, tôi vào công tác Vũng Tàu thì bị Trần Hồi trách: “Anh toàn làm thơ ở đẩu đâu, chẳng thấy có bài thơ nào về Vũng Tàu”. Tối về nhà khách Hoàng Diệu ngẫm thấy hắn trách mình đúng quá. Tôi vùng ra khỏi nhà và lang thang Bãi Trước. Có hai bài thơ về Vũng Tàu cùng nội dung được vết cho hai thể loại (lục bát và không lục bát) vào đêm đó. Bài thơ nói về sự ân hận về một tình yêu không thành. Câu chuyện được hư cấu vào 25 năm trước đó khi lần đầu tiên người con trai đặt chân tới Vũng Tàu và rồi họ phải xa nhau từng ấy tháng năm, để đến khi gặp lại cả hai mái đầu đã bạc:” Thời gian đã đổi thay màu/ Vẫn trinh nguyên một Vũng Tàu ngày xưa/ Núi bồng bềnh, biển đung đưa/ Xin cho làm mái chèo khua thở nào”.

Hôm sau tôi tặng Hồi cả hai bài. Hồi ưng lắm. Bài thơ này được ghi dấu ở Vũng Tàu và anh Tạ Đình Vinh đã gửi đăng trên báo Nhân Dân sau đó.

Tiệc mừng Sinh nhật tôi được tổ chức tại Khách sạn Caravel Sài Gòn diễn ra rất vui và đầm ấm. Trên nền phông Giàn khoan và Biển xanh vẻn vẹn vài dòng chữ: Lamson Joint Operating Company- Appreciation Dinner for Mr. NQT, General Manager. Happy Birthday to You!. Chỉ có một số bậc đàn anh và bạn bè thân thiết ở xung quanh Tp Hồ Chí Minh là khách mời. Anh Hồ Sỹ Thoảng, anh Ngô Thường San và vợ chồng anh Nguyễn Xuân Nhậm đều tới dự. Nguyễn Quang Bô, Trần Hồi, Nguyễn Duy, Hoàng Ngọc Đang, tất cả bạn bè cùng CBNV Lam Sơn JOC và vợ con tôi đều có mặt đông đủ. Ai cũng đẹp đẽ và thắm tình. Tôi chợt nhớ lại lời tâm sự giữa hai cha con khi tôi còn thơ ấu:

“… -Lớn lên con làm gì? - Con muốn làm người hữu ích Tôi trả lời thầy tôi Con tôi đã trả lời tôi Tổ tiên xưa cũng đã sống thế rồi Lẽ sống thật là đơn giản! Song nếu sống hết mình, điều vốn tưởng giản đơn kia sẽ vô cùng lãng mạn Sẽ nâng cánh ta bay kiêu hãnh suốt cuộc đời Sướng là khi ngoái lại sau lưng ta có thể mỉm cười…”

Ngày 28/2/2010 tôi ung dung rời nhiệm sở. Tạm biệt Sài Gòn trở về Thăng Long thân yêu sau 6 năm trời xa cách.

9. THAY LỜI KẾT

Người ta thường nhắc tới cái mốc 26/6/1986, ngày khai thác tấn dầu thô thương mại đầu tiên tại mỏ Bạch Hổ đưa Việt Nam vào danh sách các nước xuất khẩu dầu khí trên thế giới, rồi tiếp theo là những mốc 50, 100 hay 150 triệu tấn dầu khai thác được mà ít khi nhắc về quá khứ. Mọi người đang gặt hái thành quả. Những mỏ Bạch Hổ, Rạng Đông, Ruby, Sư Tử Đen, Sư Tử Vàng, Lan Tây..đã mang lại nguồn thu chính và gánh một tỷ phần rất lớn trong Ngân sách Quốc gia. Ngành dầu khí những năm sau này đã mở mày mở mặt và là mơ ước của bao người. Dầu Khí đã thực sự là cứu cánh và ai cũng cần có nó.Vì mục tiêu Ngân sách, các con hổ, sư tử kia nhiều lúc bị “ép sản”, phải “gồng mình”, “dopping” để hoàn thành vượt mức chỉ tiêu sản lượng, và đã có con liêu xiêu, đột quỵ. Tôi giật mình và chợt nhớ câu chuyện cách đây gần 30 năm, khi tôi hỏi một vị giáo sư Na Uy trong lúc ông trình bày về Lập Quy hoạch và Chiến lược :” Thưa Giáo sư, liệu khi lập Chiến lược dài hạn, Na-Uy có dựa chủ yếu vào dầu khí không?”, “ Không. Mặc dù sản lượng khai thác dầu khí ở Biển Bắc của chúng tôi là 60 triệu tấn/năm, nhưng khi lập Chiến lược dài hạn chúng tôi phải dựa vào tất cả. Dầu khí, Thủy Điện, Đóng tàu-Vận tải Biển, Đánh Cá, Khai khoáng, Nông Lâm nghiệp và nhất là Tài nguyên Con người( HR). Hiện giờ giá dầu thế giới là 32 USD/thùng. Để khai thác được 1 thùng dầu, chúng tôi phải tiêu tốn 15 USD trong khi ở Trung Đông chỉ cần 0,5 tới 2 USD/thùng.

Nếu chỉ dựa vào dầu khí, giả sử có một biến cố nào đó, chiến tranh hay một phát minh ra một thứ nhiên liệu mới làm giá dầu giảm dưới 15 USD/thùng chẳng hạn, trữ lượng hàng nhiều tỷ thùng ở Biển Bắc của chúng tôi phỏng có ích gì?”. Tháng 8/1990, Iraq tấn công Kuwait, lời tiên đoán đó đã trở thành hiện thực. Giá dầu từ 32USD/ thùng tụt mạnh, có lúc xuống chỉ còn 8-9USD/thùng! Cả thế giới, trong đó có Việt nam đã iao đao vì giá dầu như thế. Người ta hay ví von Dầu khí là mũi nhọn. Tôi cũng cảm thấy tự hào vì mình cũng được đóng góp phần nào vào thành công chung đó. Nhưng ước chi nó đừng độc nhất như cái sừng tê giác mà như quả Dứa, quả Mít, chỉ là một trong nhiều mũi nhọn của một trái thơm, như thế có phải là điều đáng mừng cho đất nước ?

Ngày 29/08/2006, Thủ tướng Chính phủ ký Quyết định 199/2006/QĐ-TTg thành lập Công ty Mẹ-Tập Đoàn Dầu Khí Việt Nam (Vietnam Oil and Gas Group, gọi tắt là PVN). Các đơn vị “Công ty Con” ở dưới phát triển thành các Tổng Công ty (Corporation): PVEP, PV-Oil, PV-Gas, PV-Power, PTSC, PV-Drilling…có tổng nhân lực tới 35 ngàn người. Nhân sự cũng thay đổi chóng mặt, đến mức người ta sợ chào “nhầm chức danh” phải anh nào hay để ý vặt có khi phiền toái lắm. Danh bạ Điện thoại hầu như thay đỗi không kịp so với tốc độ phát triển ấy. Những bậc tiền bối trước tôi một đời hy sinh vất vả, có những người đã khuất Những người thế hệ tôi đã sống hết mình, có người danh vọng tột đỉnh nhưng hiện giờ cũng đều đã nghỉ.

Những anh em bạn bè xưa quen biết như Phùng Đình Thực, Đỗ Văn Hậu, Nguyễn Quốc Thập v.v đã là những lãnh đạo sắc sảo đầu Ngành; Nguyễn Văn Toàn, Hoàng Ngọc Đang, Đinh Văn Sơn, Nguyễn Văn Quế.. đã thành những trưởng ban chững chạc của PV. Phan Ngọc Trung, Nguyễn Du Hưng, Phạm Như Khánh.. giờ đã là Viện trưởng, Giám đốc ngon lành. Những gương mặt trẻ hôm nào như Trịnh Xuân Cường, Cù Minh Hoàng, Nguyễn Văn Khương, Lê Ngọc Sơn.. giờ cũng đã trưởng thành và là những cán bộ quản ý có uy tín của khối E&P. Tập Đoàn Dầu Khí Việt Nam đã chính thức rời 22 Ngô Quyền, về 18 Láng Hạ, Hà Nội. Thời kỳ vá víu, cơi nới nhếch nhác đã qua rồi.. Lần đầu tiên PETROVIETNAM có một trụ sở mới khang trang. Tôi chợt nhớ về cái cái Nhà máy Điện Cơ xưa được gia cố, nâng tầng thành Trụ sở PetroVietnam 22 Ngô Quyền với những cây cột đạt kỷ lục to nhất Việt Nam một thời để rồi sau đó lại biến đi không còn dấu tích; về sự hoành tráng của Tháp Đôi Petronas dưới thời Dato Hassan Marican; về cái mô hình Tòa nhà Dầu Khí do Kts Ngô Viết Thụ thiết kế theo ý đồ của Tướng Thiện từ hơn 30 năm trước rồi cứ ngẩn ngơ tự hỏi liệu căn nguyên của sự nhếch nhác bao năm có phải chỉ vì lý do khách quan hay còn bởi tại con người. Người ta viết sách về “Danh nhân dầu khí”. Có cả những thủ lĩnh bán xăng dầu, khí-gas v.v cũng trở thành “những người đi tìm lửa”(!?), còn những người đi tìm lửa thực sự thì vẫn lặng lẽ như xưa với niềm vui được góp sức mình dựng xây Tổ quốc.

Bây giờ nhiều người đang viết Sử. Viết về Ngành Dầu Khí. Chẳng cần tới một Lê Văn Hưu hay một Tư Mã Thiên để làm gì. Không cần có lời bình, nhưng quả tình tự xa xưa, chưa thấy khi nào và ở đâu, các cựu vương và lão thần lại đua chen viết về Lịch sử của các triều đại mình như thế. Có người nói :“Cuộc đời như môt màn kịch, trong đó mỗi một người đều là những vai diễn”. Nhưng nếu thế thì thật là buồn! Sao người ta không thể là chính mình được nhỉ? May thay suốt cả chặng đường dài, dù đi khắp muôn nơi, tôi luôn tránh được những cám dỗ, ác tà để giữ cái tâm mình sáng, làm một khán giả thảnh thơi ngồi xem những màn trình diễn ấy. Và bây giờ xin tạm khép.

Có thể đây mới chỉ là những nét chấm phá ban đầu vì còn bao nhiêu điều để nhớ và để viết…

Hà Nội, tháng 5/2010, NQT